JW subtitle extractor

Kênh truyền thông JW—Tháng 6 năm 2026: Lễ mãn khóa thứ 159 của Trường Ga-la-át

Video Other languages Share text Share link Show times

Chào mừng anh chị
đến với Kênh truyền thông JW!
Vào ngày 14-3-2026,
khóa thứ 159 của Trường Ga-la-át
đã hoàn tất khóa huấn luyện tuyệt vời
về thiêng liêng kéo dài 5 tháng.
Chương trình lễ mãn khóa
giúp các học viên thích nghi với đời sống
và nhiệm sở trong tương lai.
Những nguyên tắc được nêu lên
trong chương trình này
không chỉ áp dụng cho các học viên,
mà còn có thể áp dụng cho tất cả chúng ta.
Hãy tìm cách để áp dụng những bài học
trong chương trình đầy khích lệ này.
Chúng tôi muốn chào đón tất cả các anh chị
đang lắng nghe và theo dõi chương trình này.
Dĩ nhiên, chúng tôi cũng muốn
chào đón các học viên.
Anh chị đã học hành siêng năng
trong suốt 5 tháng qua.
Chúng tôi biết anh chị học hết nổi rồi.
Vì thế, chúng tôi rất vui
khi anh chị có thể thưởng thức
chương trình hôm nay
cùng với gia đình, bạn bè
và tất cả những anh chị có mặt trực tiếp,
cũng như hàng ngàn anh chị
đang kết nối trên khắp thế giới.
Hôm nay,
quả là một ngày hào hứng!
Cuối cùng ngày này cũng đã đến:
Ngày tốt nghiệp của anh chị.
Tôi biết anh chị đã mong chờ ngày này
từ rất lâu rồi.
Giờ là lúc
anh chị đến nhiệm sở để áp dụng
những gì mình học,
để áp dụng tất cả những viên ngọc quý báu
mà anh chị đã nghiên cứu trong 5 tháng qua,
và để làm việc vai sánh vai trong sự hòa thuận
cùng với các anh em đồng đạo.
Nhưng anh chị có thấy hồi hộp
khi nghĩ đến từ “hòa thuận” không?
Có thể anh chị sẽ chuyển đến
nhiệm sở mới và thắc mắc:
“Liệu mình có tạo sự hòa thuận
và làm việc hợp nhất với anh em không?”,
hay anh chị sẽ trở về
nhiệm sở cũ và thắc mắc:
“Các anh chị khác có quan sát
để xem mình có thành thục hơn
sau khi học Ga-la-át không?”.
Đó là những lo lắng thực tế.
Vì thế, chủ đề bài giảng của tôi có tựa:
“Hãy làm hòa”.
Thực tế, không ai nói rằng làm hòa
là điều dễ dàng cả.
Chúa Giê-su cho biết điều này
nơi Ma-thi-ơ chương 5.
Mời anh chị cùng tôi mở Kinh Thánh đến
sách Ma-thi-ơ chương 5.
Hãy lưu ý đến tình huống mà
Chúa Giê-su miêu tả
và điểm mà ngài muốn nhấn mạnh.
Nơi Ma-thi-ơ 5:23, 24,
Chúa Giê-su nói với các môn đồ:
“Nếu anh em mang lễ vật đến bàn thờ
và tại đó chợt nhớ một người anh em
có điều gì bất bình với mình
thì hãy để lễ vật
nơi bàn thờ
mà đi làm hòa với người đó trước
rồi mới trở lại dâng lễ vật”.
Đối với những người nghe
Chúa Giê-su vào thời đó
thì điều ngài nói dường như là
không thể thực hiện được.
Hãy hình dung: Chúa Giê-su
bảo họ để lễ vật nơi bàn thờ
rồi đi, tìm một người ở trong thành.
Vào lúc mà kỳ lễ đang diễn ra
thì có hàng trăm ngàn người ở trong thành.
Họ phải đi khắp cả thành
để có thể tìm được người
mà đang bất bình với mình.
Tìm được thì nhanh chóng làm hòa
để kịp giờ trở lại đền thờ
và dâng lễ vật cho Đức Giê-hô-va.
Như vậy, điểm chính mà Chúa Giê-su
đang muốn nói ở đây
là việc làm hòa
không phải lúc nào cũng dễ.
Nhưng có những câu hỏi
mà chúng ta muốn tự hỏi.
Tại sao làm hòa lại khó như thế?
Và làm thế nào để làm hòa
ngay cả khi không dễ?
Để giải đáp những câu hỏi ấy,
chúng ta sẽ xem xét ba nỗi sợ
thường khiến người ta khó làm hòa.
Và rồi chúng ta sẽ xem cách Áp-ram,
tức Áp-ra-ham
đã được thúc đẩy để làm hòa
với cháu mình là Lót
khi giữa họ
có thể đã xảy ra những bất đồng.
Hãy cùng bắt đầu với nỗi sợ thứ nhất:
Sợ bị người khác xem là yếu đuối.
Đôi khi,
nhiều người trong chúng ta cảm thấy bất an
vì nghĩ mình không có giá trị.
Vì thế, phản ứng tự nhiên của họ
là cố gắng hết sức
để chứng tỏ là mình quan trọng
trong mắt người khác,
và hạ thấp người khác xuống.
Hậu quả là
mình đánh mất sự hòa thuận.
Liệu Áp-ram có ngần ngại làm hòa
vì sợ bị xem là yếu đuối không?
Mời anh chị cùng tôi mở Kinh Thánh
đến Sáng thế chương 13.
Đây là lời tường thuật quen thuộc
nói về việc những người chăn gia súc
của Áp-ram và Lót tranh giành đất đai
và Áp-ram thấy điều này có thể gây ra vấn đề.
Hãy lưu ý điều đã xảy ra nơi Sáng thế 13:8, 9.
Câu này nói: “Áp-ram bèn nói với Lót:
‘Xin đừng để có chuyện tranh cãi
giữa chú cháu mình
giữa những người chăn của chú
và những người chăn của cháu,
vì chúng ta là ruột thịt.
Chẳng phải cả xứ ở trước mặt cháu sao?
Xin hãy tách nhau ra.
Nếu cháu sang bên trái
thì chú sẽ qua bên phải,
nếu cháu sang bên phải
thì chú sẽ qua bên trái’”.
Oa. Áp-ram đã chủ động
hạ mình xuống trước mắt Lót.
Ông không lo sợ rằng
mình kém quan trọng hơn Lót.
Ông đã có thể tìm cách nâng mình lên
và hạ Lót xuống.
Ông đã có thể nói:
“Đợi một chút.
Cháu mới là người đi theo chú,
chứ chú đâu có đi theo cháu.
Đức Giê-hô-va giao cho chú nhiệm sở này
chứ đâu có giao cho cháu”.
Hẳn ông đã có thể lấy được mảnh đất tốt.
Nhưng tôi đảm bảo là
ông không có sự hòa thuận.
Nhưng không, Áp-ram đã không làm thế.
Dù ông cũng có những nỗi bất an,
giống như anh chị và tôi,
nhưng Áp-ram đã hạ mình xuống
trước mắt Lót.
Ông sẵn sàng nhường.
Điều gì đã thúc đẩy Áp-ra-ham làm thế?
Nói đơn giản, ông quan tâm đến quan điểm
của Đức Giê-hô-va về ông,
chứ không phải quan điểm của con người.
Đó mới là điều quan trọng.
Ông không quan tâm là
ông được ở đâu trong Đất Hứa,
miễn là ông ở trong Đất Hứa.
Việc được ở trong Đất Hứa là bằng chứng
cho thấy Đức Giê-hô-va chấp nhận ông.
Đó chẳng phải là điểm chính
của Ma-thi-ơ 5:23, 24 sao?
Đó chính là điều Chúa Giê-su nói.
Nói cách khác,
Chúa Giê-su đang bảo những người
nỗ lực làm hòa với người khác:
“Hãy trở lại, nhanh chóng trở lại đền thờ
để dâng lễ vật cho Đức Giê-hô-va”.
Và đó là điều Áp-ram muốn
hơn bất cứ điều gì khác:
hòa thuận với Đức Chúa Trời.
Vậy bài học đầu tiên mà chúng ta học được
từ gương của Áp-ram là gì?
Nếu chúng ta sợ là người khác
nghĩ mình yếu đuối
hoặc sợ rằng họ không để ý đến
những kinh nghiệm của mình
hoặc sự huấn luyện mà mình có tại Ga-la-át
thì có nghĩa là mình đang cảm thấy bất an.
Và sự bất an đó sẽ ngăn cản chúng ta
làm hòa với người khác.
Đó là những điều cản trở sự hòa thuận.
Vậy làm thế nào để tránh nỗi sợ đó?
Như Áp-ram,
hãy thỏa lòng với đặc ân cao quý nhất
mà con người có thể có.
Đó là được Giê-hô-va
Đức Chúa Trời chấp nhận.
Những ân phước và bất cứ đặc ân
nào khác mà ngài ban
chỉ là phần thêm thôi.
Như đã xem xét,
Áp-ram đối xử với Lót một cách khiêm nhường
và hẳn ông đã nghĩ:
“Có thể Lót cũng sẽ đối xử với mình như thế”.
Nếu vậy thì quá tốt phải không?
Điều này dẫn đến nỗi sợ thứ hai.
Đó là sợ bị người khác lợi dụng.
Điều này có thể xảy ra
khi chúng ta nhường nhịn trước một bất đồng,
rồi sau đó chúng ta bắt đầu cảm thấy lo lắng
là vì mình đã nhường
cho nên mình sẽ bị người đó lợi dụng.
Áp-ram đã làm gì?
Hãy cùng mở đến sách
Sáng thế chương 13 lần nữa
và chúng ta sẽ tiếp tục đọc nơi
Sáng thế chương 13, bắt đầu với câu số 10.
Hãy xem điều gì xảy ra ở đây.
Áp-ram đối xử tử tế với Lót,
ông chủ động làm hòa,
rồi câu 10 nói:
“Lót nhìn lên, thấy cả vùng
sông Giô-đanh đến tận Xoa
là một vùng có nhiều nước
(lúc này Đức Giê-hô-va chưa hủy diệt
Sô-đôm và Gô-mô-rơ),
vùng ấy tựa như vườn của Đức Giê-hô-va,
giống như xứ Ai Cập.
Thế là Lót chọn cả vùng sông Giô-đanh
và dời trại sang phía đông.
Vậy họ tách nhau ra.
Áp-ram ở lại xứ Ca-na-an,
còn Lót ở gần các thành của
vùng sông Giô-đanh”.
Lót có thật sự lợi dụng sự khiêm nhường
của Áp-ram không?
Thành thật mà nói, chúng ta không biết.
Chúng ta không biết mọi chi tiết về
những điều thật sự xảy ra trong tình huống này.
Và bài giảng chính trong chương trình này
sẽ càng nêu bật điều đó.
Đừng bỏ lỡ nhé.
Nhưng
giả sử lựa chọn của Lót
khiến Áp-ram bị sốc,
giả sử ông cảm thấy khó chịu,
Áp-ram hẳn đã có thể nghĩ:
“Thật bực bội! Khiêm nhường cũng
chẳng có ích gì.
Mình vẫn không đạt được điều mình muốn.
Mình phải cứng rắn với Lót”.
Hẳn ông đã có thể nghĩ như thế.
Nhưng Áp-ram có nghĩ như thế không?
Không.
Hãy lưu ý phần cuối của câu 11
và phần đầu của câu 12 nói như sau:
“Vậy họ tách nhau ra.
Áp-ram ở lại xứ Ca-na-an”.
Ông không phản đối,
không đòi quyền lợi
cũng không phàn nàn là bất công.
Sự khiêm nhường của Áp-ram là chân thành.
Đó không phải là chiêu trò
để đạt được điều mình muốn sau này.
Như vậy, rõ ràng đối với Áp-ram,
sự hòa thuận quan trọng hơn
là lợi ích cá nhân.
Lần nữa, chúng ta học được gì
từ gương của Áp-ram?
Chúng ta có thể lo là ai đó sẽ lợi dụng
tinh thần nhường nhịn của mình để trục lợi
như để nhận đặt ân,
lời khen hay thành quả nào đó.
Điều đó có thể khiến chúng ta nghĩ rằng
tử tế và khiêm nhường
chẳng mang lại lợi ích gì.
Nhưng thái độ này sẽ khiến chúng ta
đánh mất sự hòa thuận.
Đừng để nỗi sợ đó chi phối mình.
Thay vì vậy, hãy bắt chước Áp-ram.
Hãy tin cậy là việc làm hòa theo ý
của Đức Giê-hô-va sẽ luôn là điều đúng,
ngay cả khi điều đó có vẻ như
không hiệu quả.
Khi làm thế, có lẽ chúng ta
không đạt được điều mình muốn,
nhưng chúng ta sẽ đạt được
điều quan trọng nhất:
Đó là sự chấp thuận của
Đức Giê-hô-va và hòa thuận với ngài.
Khi những lựa chọn của Lót
bắt đầu khiến ông gặp hậu quả,
Áp-ram phản ứng thế nào?
Liệu ông sẽ tha thứ và bỏ qua?
Hay ông sợ là mình sẽ quên mất những điều
không tốt mà Lót làm với mình?
Để biết câu trả lời,
xin đừng bỏ lỡ phần cuối của chương trình.
Giờ đây, đã đến lúc để
thưởng thức Chuyện chưa kể.
Đây là một phần trong chương trình
lễ mãn khóa Ga-la-át
mà tất cả chúng ta đều mong đợi.
Chắc chắn anh chị cũng sẽ thích tập này.
Đây là cơ hội tốt để
những ai có tinh thần giáo sĩ
nghĩ đến những cách
để mở rộng thánh chức
ở những nơi có nhu cầu.
Một giảng viên của trường Ga-la-át
là anh Jeremy Clarke
sẽ dẫn dắt số này của Chuyện chưa k.
Chào mừng anh chị
đến với Chuyện chưa k.
Nơi Ma-thi-ơ 5:6,
Chúa Giê-su nói rằng
những người đói khát
sự công chính sẽ hạnh phúc
vì nhu cầu tâm linh
của họ được thỏa mãn.
Làm thế nào Đức Giê-hô-va đảm bảo
là những người trẻ
được thỏa mãn nhu cầu tâm linh?
Ngài giao phó
trách nhiệm đó cho cha mẹ.
Nhưng nói sao nếu cha mẹ
không phải là Nhân Chứng?
Vậy ngài giúp họ thế nào?
Vào thời Kinh Thánh,
ngài đã dùng những tôi tớ
thành thục và lớn tuổi hơn
để giúp những người trẻ.
Chẳng hạn như
thầy tế lễ thượng phẩm Giê-hô-gia-đa
giúp vua Giê-hô-ách
hay Xa-cha-ri giúp vua U-xi-a.
Trong tập này,
các học viên sẽ chia sẻ
là nhu cầu tâm linh của họ
được thỏa mãn như thế nào khi còn trẻ
và điều đó đã giúp họ tiến bộ,
mở rộng thánh chức
và có đời sống hạnh phúc ra sao
khi phụng sự Đức Giê-hô-va.
Hãy cùng chào đón
cặp đầu tiên là anh Antron
và chị Rebeca Carraway đến từ Hoa Kỳ.
Chào anh Antron và chị Rebeca.
Anh chị đã phụng sự
ở Hoa Kỳ được nhiều năm.
Vậy anh chị có thể chia sẻ đôi chút
về quá trình trưởng thành
của mình được không?
Mời anh Antron.
Vâng, tôi sinh ra
và lớn lên ở Nam Carolina.
Tôi được cha mẹ
nuôi dạy trong chân lý.
Tôi đã học được rất nhiều
từ cách cha đối xử với người khác.
Còn mẹ thì giúp tôi
đến gần Đức Giê-hô-va,
đặt những mục tiêu thiêng liêng
và biết cách để đạt những mục tiêu ấy.
Ngoài ra, trong hội thánh,
cũng có những anh khác quan tâm đến tôi.
Tôi nhớ là có một anh
đã mời tôi và anh họ
cùng học sách Châm ngôn với anh ấy.
Tại sao lại là sách Châm ngôn?
Lúc đó, tôi chỉ là thiếu niên.
Vì sách này chứa đựng
những sự khôn ngoan thiết thực
nên anh ấy nghĩ
đây là dự án học hỏi rất hữu ích
để giúp chúng tôi thấy được
sự khôn ngoan trong Kinh Thánh.
Có một anh khác
cũng tác động rất lớn đến tôi.
Anh ấy cùng hội thánh với tôi
và từng phụng sự ở Bê-tên vài năm rồi quay lại.
Anh ấy nói với tôi:
“Em hãy suy nghĩ về việc phụng sự tại Bê-tên”.
Anh ấy cũng khuyến khích tôi
học một ngôn ngữ khác.
Thế là tôi suy nghĩ
và cố gắng làm theo lời anh ấy nói.
Và đúng là anh đã làm thế.
Thật tốt là họ quan tâm đến cá nhân anh.
Còn chị, chị cũng được nuôi dạy
trong chân lý chứ?
Dạ có. Tôi lớn lên ở Tây Ban Nha
và nhà tôi cũng ở rất gần chi nhánh.
Nên khi tôi còn nhỏ
thì các anh chị ở Bê-tên
thường đến nhà tôi chơi.
Chị cảm thấy thế nào
khi có nhiều anh chị phụng sự
trọn thời gian thường xuyên đến nhà?
Tôi thấy là
dù họ không dư dả về vật chất,
nhưng họ “chẳng thiếu điều chi tốt lành”.
Tôi thấy rõ là Đức Giê-hô-va
chăm lo chu đáo cho những anh chị ấy.
Các anh chị ấy luôn hạnh phúc,
lúc nào cũng tươi cười,
và điều đó
đã thật sự tác động đến tôi.
Vậy nên, tôi cũng muốn
có đời sống hạnh phúc như thế.
Ồ, hay quá!
Vậy cha mẹ còn giúp chị
theo cách nào khác nữa không?
Tôi nhớ là mỗi tối,
cha đều cùng ba chị em chúng tôi
cầu nguyện với Đức Giê-hô-va.
Không chỉ vậy,
cha còn muốn lắng nghe
những lời cầu nguyện riêng của chúng tôi nữa.
Tôi nghĩ đó là cách
mà cha giúp chúng tôi thấy
Đức Giê-hô-va là Đấng có thật.
Còn mẹ thì khuyến khích
chị em chúng tôi
dành thời gian kết hợp với các tiên phong
trong hội thánh càng nhiều càng tốt.
Và chúng tôi đã làm thế.
Nhờ đó mà từ khi còn nhỏ,
chúng tôi đã bắt đầu
yêu thích công việc thánh chức.
Tôi thấy rõ là cả hai anh chị
đã được cha mẹ nuôi dạy rất tốt.
Nhờ thế, anh chị có đức tin mạnh
và lòng sốt sắng để phụng sự nhiều hơn.
Anh chị đã có được những cơ hội nào?
Dạ, khi chúng tôi bắt đầu tìm hiểu
thì anh ấy đang phụng sự
ở Bê-tên New York.
Nhưng không lâu sau đó,
anh được bổ nhiệm
đến phụng sự ở chi nhánh Uganda.
Uganda?
Vâng, tôi cũng bất ngờ
nhưng cũng háo hức
về nhiệm sở mới ở Uganda.
Chúng tôi tiếp tục hẹn hò
và tổ chức đám cưới ở Tây Ban Nha.
Chỉ vài ngày sau khi cưới,
Rebeca lên đường sang Uganda
để bắt đầu cuộc sống tại Bê-tên.
Hình này chụp ở Uganda à?
Vâng, tại chi nhánh.
Đời sống ở đó như thế nào?
Đó là trải nghiệm mà
chúng tôi không bao giờ quên.
Nhưng tôi phải thừa nhận
là không hề dễ
khi phải thay đổi
quá nhiều thứ cùng một lúc như vậy.
Tôi phải làm quen với
đời sống hôn nhân,
với đời sống ở Bê-tên,
rồi còn phải thích nghi với văn hóa, ngôn ngữ,
ẩm thực, và còn cả lối suy nghĩ mới.
Bản thân chúng tôi
được rèn luyện rất nhiều,
chẳng hạn cách mình suy nghĩ,
cách người khác suy nghĩ.
Nhờ thế, mình thành thục hơn.
Tôi đoán là một số câu châm ngôn
đã giúp ích cho anh phải không?
Dạ chắc chắn.
Tôi nhớ trong lớp
nhắc đến Châm ngôn 19:11:
“Điều tốt đẹp nơi người
là bỏ qua sự xúc phạm”.
Tôi học được rằng dù mọi điều
Đức Giê-hô-va tạo ra đều tốt đẹp,
nhưng trong câu này, ngài nói
nếu mình tha thứ cho người khác
thì đó mới là vẻ đẹp thật sự.
Và đây cũng chính là điều
mà anh em ở Uganda đã làm.
Đôi khi chúng tôi làm những điều
khiến họ phật lòng
nhưng họ không hề phàn nàn.
Họ thật sự rất đẹp vì đã bỏ qua
lỗi lầm của chúng tôi.
Anh em ở đó đã thật sự trở thành
gia đình mới của chúng tôi.
Chúng tôi học được rằng
nếu mình thật lòng yêu thương anh em
thì chắc chắn họ sẽ yêu thương mình.
Họ đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều,
nhất là những lúc nhớ nhà.
Có một cặp vợ chồng giáo sĩ ở Uganda
đã tinh ý nhận ra
những cảm xúc của chúng tôi.
Họ đã dành nhiều thời gian
quan tâm và kết hợp với chúng tôi.
Nhờ tình yêu thương của họ
mà chúng tôi thấy được
Đức Giê-hô-va yêu thương
và chăm sóc chúng tôi.
Anh chị ở đó được bao lâu?
Chúng tôi đã ở đó mười năm.
Lúc chuyển đi có khó không?
Dạ, khó lắm anh.
Chúng tôi đã khóc rất nhiều
khi phải rời đi.
Vâng, khóc như mưa luôn.
Nhưng vợ chồng chúng tôi
vẫn giữ liên lạc với anh em ở đó,
đặc biệt là với những chị mà tôi rất thân.
Anh em ở đó không bao giờ
khiến chúng tôi cảm thấy mình như người xa lạ.
Trước khi chúng tôi rời đi,
họ còn tặng chúng tôi một con dê
và một mảnh đất nhỏ ở Uganda,
để nếu chúng tôi quay lại thì có chỗ ở.
Hay quá! Anh chị đã được huấn luyện rất tốt
và đã đáp ứng nhu cầu tâm linh
của rất nhiều người ở đó.
Và chắc chắn là trong tương lai,
anh chị sẽ đáp ứng
nhu cầu tâm linh của nhiều người hơn nữa.
Cảm ơn hai anh chị rất nhiều!
Một số anh chị trong lớp chỉ có
cha hoặc mẹ giúp họ học chân lý.
Chẳng hạn như trường hợp
của chị Jiahui Lin đến từ Đài Loan.
Chào chị Jiahui.
Dạ, chào anh.
Chị có thể chia sẻ đôi chút
về mình được không?
Dạ, tôi sinh ra và lớn lên ở Đài Loan.
Khi tôi mười tuổi thì
mẹ học chân lý và báp-têm.
Tốt quá, còn cha của chị thì sao?
Dù cha tôi chưa phải là Nhân Chứng
nhưng ông rất quý Nhân Chứng
và ủng hộ chúng tôi.
Chính mẹ là người đã giúp tôi và em trai
vun trồng tình yêu thương
dành cho Đức Giê-hô-va và thánh chức.
Đây là hình ba mẹ con phải không?
Dạ đúng, hình chụp ở Phòng Nước Trời.
Vậy mẹ của chị đã giúp chị
đến gần Đức Giê-hô-va như thế nào?
Mẹ tôi bắt đầu làm tiên phong
dù lúc đó mẹ vẫn
làm việc trọn thời gian ngoài đời
và nuôi dạy hai chị em chúng tôi.
Mẹ tôi là một tiên phong sốt sắng
và mẹ rất yêu thích thánh chức.
Tôi nhớ rõ
mỗi khi mẹ đi rao giảng về
thì khuôn mặt của mẹ tràn đầy niềm vui
và mẹ kể lại cho chúng tôi nghe
những kinh nghiệm hay
trong thánh chức vào ngày hôm đó.
Khu vực ở đó
có dễ cho mẹ của chị không?
Dạ, đúng là nhiều người trong khu vực ở đó
thì có lối sống thiên về vật chất,
họ ít quan tâm hoặc
không có thời gian để nói về Kinh Thánh.
Nhưng mẹ tôi luôn tìm được
những người chú ý.
Tôi nghĩ là vì nhiều người
cảm nhận được niềm vui
và tình yêu thương chân thành của mẹ.
À, tôi nhớ mẹ còn rất khéo léo
sử dụng phần giới thiệu
của Kinh Thánh—Bản dịch Thế Giới Mới
để bắt đầu các cuộc trò chuyện.
Đúng là mẹ chị
tràn đầy nhiệt tâm nhờ thần khí.
Tôi cũng thắc mắc
là thánh chức ở đó ra sao,
đặc biệt là trong một môi trường
thiên về vật chất như vậy.
Công việc thánh chức ở đó
đang tiến triển rất tốt.
Thật ra chúng tôi có chuẩn bị một video.
Vậy mình cùng xem đi!
Ilha Formosa có nghĩa là “Hòn đảo xinh đẹp”.
Hòn đảo này đẹp từ bờ biển
cho đến những đỉnh núi cao nhất
và hòn đảo này nằm giữa Thái Bình Dương.
Nhưng giống như nhiều nơi khác
trên khắp thế giới,
điều đẹp nhất ở Đài Loan
vẫn chính là con người.
Vào năm 1948, một anh tốt nghiệp
khóa thứ 8 Trường Ga-la-át
là anh Stanley Jones
đã đến thăm Đài Loan.
Anh đã đi khắp hòn đảo
và tổ chức một hội nghị.
Lúc đó có khoảng 300 người báp-têm.
Những hạt giống chân lý ấy đã phát triển.
Hiện nay, có hơn
11.000 người công bố Nước Trời tại Đài Loan.
Đài Loan là một trong những nơi
có mật độ dân số cao nhất trên thế giới.
Chỉ riêng thành phố Đài Bắc
đã có hơn hai triệu dân.
Ở thành phố này,
đâu đâu cũng có cơ hội làm giàu
để có đời sống sung túc.
Tuy nhiên, anh em của chúng ta
vẫn tiếp tục noi theo gương
của những giáo sĩ thời ban đầu
và hết lòng ủng hộ công việc Nước Trời.
Khi còn trẻ, tôi thường xuyên thấy
ba mẹ cãi nhau vì vấn đề tiền bạc.
Thế nên tôi quyết tâm là khi lớn lên,
tôi sẽ kiếm thật nhiều tiền
để gia đình của mình
được hạnh phúc và êm ấm.
Năm 17 tuổi,
tôi bắt đầu học Kinh Thánh
và biết được một sự thật quan trọng:
Đức Giê-hô-va muốn chúng ta
sống trong địa đàng.
Và tôi cũng học được rằng
thỏa lòng mới là bí quyết
để có hạnh phúc thật.
Tôi báp-têm vào năm 1999.
Sau khi kết hôn,
cả hai chúng tôi đều có mục tiêu
làm tiên phong ở nơi có nhu cầu lớn hơn.
Nhưng lúc ấy,
sức khỏe của cha tôi không tốt
vì tám năm trước đó,
cha đã bị đột qụy.
Với thời gian, tôi bắt đầu yêu thích
công việc của mình nhiều hơn
và tôi cũng đạt được
nhiều thành tựu nhất định.
Thế nên đôi khi tôi tự hỏi là liệu mình
có đang lấy cớ chu cấp cho gia đình
để hưởng thụ
một đời sống tiện nghi không?
Nhưng khi nghe về
những anh chị mở rộng thánh chức
hoặc niềm vui mà họ cảm nghiệm
khi tham dự Trường dành cho
người rao truyền Nước Trời,
thì vợ chồng chúng tôi
được khích lệ rất nhiều
và điều đó cũng giúp chúng tôi
suy nghĩ đến việc đơn giản hóa đời sống.
Sau đó, cha tôi qua đời.
Chúng tôi nhận thấy đây là cơ hội
để hai vợ chồng đơn giản hóa đời sống.
Không lâu sau, cả hai chúng tôi
quyết định là sẽ xin nghỉ việc.
Chúng tôi chuyển đến
một nơi có nhu cầu lớn hơn
và bắt đầu làm tiên phong tại đó.
Khì tôi gặp sếp để xin nghỉ việc,
ông ấy không thể tin nổi.
Ông rất bực và hỏi tôi:
“Yi Hong à, cậu có bị gì không đấy?
Cậu đã nghĩ kỹ chưa?
Tương lai của cậu thì sao?
Thế còn gia đình của cậu thì thế nào?”.
Nhưng tôi vẫn quyết tâm là nghỉ việc.
Đức Giê-hô-va đã ban phước cho chúng tôi.
Tôi đã nhanh chóng
yêu thích đời sống mới này.
Chúng tôi có nhiều thời gian kết hợp
với các anh em trong hội thánh
và cũng có cơ hội
giúp nhiều học viên Kinh Thánh
tiến bộ và đến gần với Đức Giê-hô-va hơn.
Tôi thấy những gì mà thế gian
của Sa-tan tạo ra chỉ là ảo tưởng.
Nhiều thứ trông có vẻ rất hấp dẫn
nhưng thật ra chẳng có giá trị gì cả.
Đối với tôi,
điều quan trọng là chúng ta có
mối quan hệ mật thiết với Đức Giê-hô-va.
Chúng ta có thể
sống đời đời trong địa đàng
và phụng sự ngài mãi mãi.
Tôi ước là mình có can đảm
để đơn giản hóa đời sống sớm hơn
và phụng sự ngài nhiều hơn.
Tôi bắt đầu hiểu rõ
sự thật nơi Châm ngôn 10:22:
“Ân phước Đức Giê-hô-va
làm cho giàu có”.
Những giáo sĩ thời ban đầu
đã đặt một nền móng vững chắc tại Đài Loan.
Hàng ngàn anh em đang noi theo
gương của những giáo sĩ ấy.
Họ sẵn sàng hy sinh để ủng hộ
công việc rao giảng tại hòn đảo xinh đẹp này.
Thật khích lệ khi thấy anh em ở đó
sốt sắng giúp người khác
biết về Đức Giê-hô-va.
Dạ đúng.
Vậy ngoài mẹ của chị
thì có ai khác giúp chị
tiến bộ về thiêng liêng không?
Có một thời gian
tôi yếu về mặt thiêng liêng,
tôi hay bỏ nhóm họp.
Nhưng có một điều tốt
là một cặp vợ chồng giáo sĩ trong hội thánh
đã thật sự để ý và quan tâm đến tôi.
Mỗi khi thấy tôi vắng mặt
ở buổi nhóm họp
thì chị vợ luôn hỏi thăm tôi.
Có phải họ trong bức hình không?
Dạ, đây là hình ba mẹ con chụp với họ.
Hình đẹp quá!
Họ từng học Ga-la-át phải không?
Đúng rồi ạ.
Họ cũng xuất hiện trong video
Cho đến đầu cùng trái đất.
Tôi rất vui được kết hợp với họ.
Nhưng sau đó họ được bổ nhiệm
đến một thành phố khác.
Tôi rất buồn.
Nhưng Đức Giê-hô va
đã ban cho tôi một người bạn khác,
đó là một chị người Nhật.
Chị ấy đã chuyển đến Đài Loan để phụng sự.
Chị ấy thường mời tôi
tham gia thánh chức cùng
trong nhiều hình thức khác nhau.
Hẳn chị ấy rất yêu thương chị.
Chị ấy còn giúp chị
theo cách nào khác nữa không?
Dạ có, tôi nhớ khi video đầu tiên
của loạt Giới trẻ thắc mắc ra mắt,
có tựa
Làm sao tìm được người bạn đích thực?,
thì chị ấy đã mời tôi qua nhà để xem chung.
Trong video,
tôi thấy là có một chị tiên phong
đang giúp một bạn trẻ
và lúc đó tôi nhận ra là chị người Nhật
cũng đang làm thế với mình.
Trước đây tôi biết
những gì mình học là chân lý.
Nhưng sau khi cảm nhận được
tình yêu thương và lòng quan tâm của chị ấy,
tôi bắt đầu cảm nhận được tình yêu thương
của Đức Giê-hô-va dành cho chính mình.
Điều đó đã thúc đẩy tôi
xem Đức Giê-hô-va là bạn và đến gần ngài.
Hay quá.
Sự giúp đỡ của mẹ
và các anh chị khác
đã giúp chị
tiến bộ về thiêng liêng như thế nào?
Tôi đã bắt đầu làm tiên phong đều đều
và rồi kết hợp
với một hội thánh tiếng Anh.
Tôi rất vui khi giúp người khác
cảm nhận được
tình yêu thương của Đức Giê-hô-va
và tôi cũng được khích lệ rất nhiều
khi thấy nhiều anh em trên khắp thế giới
đã sẵn sàng hy sinh mọi thứ
để đến Đài Loan hỗ trợ cho
công việc rao giảng
và phụng sự Đức Giê-hô-va.
Việc giúp người khác học chân lý
và đến gần Đức Giê-hô-va
thật sự là điều mang lại niềm vui!
Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho chị
và các anh em tại Đài Loan.
Chúng tôi rất thích
nghe câu chuyện của chị.
Cảm ơn anh.
Nhiều anh chị không có cả cha lẫn mẹ
giúp họ đến gần với Đức Giê-hô-va.
Vậy thì ai giúp họ?
Hãy cùng vào gặp gỡ
anh Doug Terrell đến từ Hoa Kỳ.
Chào anh Terrell.
Anh đã biết đến chân lý bằng cách nào?
Khi tôi khoảng 18 tuổi,
thì lúc đó đời sống của tôi rất tồi tệ.
Ý anh là sao?
Tôi không được nuôi dạy trong chân lý.
Mẹ tôi đã làm việc rất siêng năng
để chăm lo cho ba người con.
Dù vậy, tôi đã đưa ra
những quyết định thiếu khôn ngoan.
Tôi thường giao du với những người xấu
và tôi cũng
dễ nóng giận và hay lo âu.
Tình hình tồi tệ đến mức
mẹ đã phải nói chuyện
rất thẳng thắn với tôi.
Trước đây tôi đã đi nhiều nhà thờ khác nhau
vì rất muốn biết về Đức Chúa Trời.
Tôi đã đến nhà thờ của Công giáo,
đạo Ngũ tuần và Giám Lý Hội.
Anh thấy ở đó thế nào?
Những gì tôi thấy và nghe
ở những nhà thờ đó không động đến lòng tôi.
Vì thế sau khi
mẹ nói chuyện thẳng thắn với tôi,
tôi nhớ là mình đã quỳ xuống
cầu nguyện với Đức Chúa Trời trong nước mắt.
Tôi cầu xin ngài giúp tôi biết về ngài
và giúp tôi giải đáp những thắc mắc của mình.
Đó là những thắc mắc nào vậy?
Tôi thắc mắc là Đức Chúa Trời có tên không?
Tại sao người hiền lại không gặp lành?
Và tại sao các tôn giáo ngày nay
lại đầy sự giả hình?
Đúng là nhiều người muốn biết
lời giải đáp cho những câu hỏi đó.
Rồi chuyện gì xảy ra?
Hai tuần sau lời cầu nguyện đó,
Nhân Chứng Giê-hô-va
đã đến gõ cửa nhà tôi.
Bình thường thì gia đình tôi
không ra mở cửa.
Thế sao lần này anh lại ra mở cửa?
Nhưng lần này thì khác.
Một trong hai chị đến gõ cửa
từng là giáo viên cấp ba của tôi.
Tôi nhớ là cô rất nhân từ và yêu thương.
Thế là tôi đã đi ra mở cửa.
Tôi rất ngạc nhiên
vì câu đầu tiên mà cô hỏi tôi là:
“Em có biết Đức Chúa Trời có tên không?”.
Rồi cô chia sẻ Thi thiên 83:18
và cô ấy cũng chia sẻ 1 Giăng 5:19:
cả thế gian nằm dưới quyền
của Kẻ Ác là Sa-tan.
Sau khi nghe những gì cô chia sẻ,
tôi cảm nhận được niềm vui
mà tôi chưa từng có trước đây.
Hay quá.
Vậy ngoài cô giáo
thì có ai khác giúp anh học Kinh Thánh
và tiến bộ về thiêng liêng không?
Dạ có.
Sau đó tôi bắt đầu học Kinh Thánh
và rồi tôi đến Atlanta,
ở đó tôi gặp bạn thân nhất của mình.
Anh kể thêm được không?
Lúc đó, tôi học Kinh Thánh
được khoảng một năm.
Nhưng tôi cần được giúp
để biết cách áp dụng điều mình học.
Anh ấy là một tiên phong sốt sắng.
Anh ấy quan tâm và thường giúp tôi
biết cách áp dụng điều mình học.
Và thế là tôi quyết định chuyển đến Atlanta.
Khi chuyển đến đó,
anh ấy tiếp tục dạy tôi Kinh Thánh.
Chúng tôi đã ở chung nhà trong bảy năm.
Tuyệt vời.
Anh ấy không chỉ quan tâm đến cá nhân anh
mà còn quan tâm
đến thiêng liêng của anh nữa.
Rồi chuyện gì xảy ra tiếp?
Tôi nhớ là anh ấy
đã mời giám thị vòng quanh
học Kinh Thánh chung với tôi.
Anh giám thị ấy rất nhân từ và yêu thương.
Và sau buổi học hôm đó,
tôi cầu nguyện với Đức Giê-hô-va
và xin ngài giúp mình
đặt các mục tiêu thiêng liêng.
Có những ai trong bức hình này vậy?
Bức hình này chụp vào ngày tôi báp-têm.
Ở ngoài cùng bên phải
là cô giáo cấp ba của tôi,
người đã gõ cửa nhà tôi.
Còn ở ngoài cùng bên trái
là bạn thân nhất của tôi.
Hình đẹp quá!
Vậy việc được kết hợp với
giám thị vòng quanh đã giúp anh như thế nào?
Thật ra trong khoảng thời gian đó,
tôi cần được giúp để vượt qua
những ảnh hưởng xấu từ lối sống trước đây,
khi mà tôi chưa biết đến chân lý.
Anh giám thị vòng quanh đó thật sự quan tâm
và giúp đỡ cho tôi rất nhiều.
Anh ấy giúp tôi trau dồi
các kỹ năng trong thánh chức,
trau dồi kỹ năng dạy dỗ, chăn bầy
và ngoài ra, anh ấy cũng giúp tôi
biết cách thăng bằng lại cảm xúc.
Và không lâu sau đó,
tôi trở thành giám thị vòng quanh.
Vui quá.
Khi anh nghĩ đến những người
đã giúp mình tiến bộ về thiêng liêng,
anh ấn tượng điều gì?
Tôi nghĩ đến
một nhân vật Kinh Thánh là Ô-nê-sim.
Trước khi trở thành tín đồ,
ông từng là một nô lệ bỏ trốn.
Vào thời đó,
nô lệ được xem như tài sản của chủ.
Nhưng khi ông trở thành tín đồ,
sứ đồ Phao-lô đã dùng ông
để khích lệ các hội thánh.
Tôi cảm thấy mình giống như Ô-nê-sim
vì trước khi biết chân lý,
tôi thấy mình như một món đồ
vô giá trị và chẳng có tương lai.
Nhưng rồi Đức Giê-hô-va
dùng những gương Phao-lô thời hiện đại
như giáo viên cấp ba,
bạn thân của tôi và giám thị vòng quanh
để giúp tôi thấy được
tiềm năng của bản thân.
Thật tốt là anh đã đạt được
những mục tiêu thiêng liêng.
Kinh nghiệm của anh cho thấy
việc dành thời gian quan tâm
và giúp những người trẻ
yêu mến Đức Giê-hô-va là điều quan trọng.
Cảm ơn anh
đã chia sẻ kinh nghiệm của mình.
Khi nhu cầu tâm linh được thỏa mãn,
chúng ta được thôi thúc
để làm nhiều hơn cho Đức Giê-hô-va.
Hãy cùng gặp một cặp vợ chồng
đang phụng sự tại Thái Lan
là anh Andy và chị Julia Alton.
Chào anh chị,
chúng tôi biết là anh chị đến từ Anh Quốc
nhưng đang phụng sự tại Thái Lan.
Vậy cơn gió nào đưa anh chị đến đó?
Thật ra trong thời gian dài,
mục tiêu của chúng tôi
là phụng sự ở Bê-tên Anh Quốc.
Chúng tôi nộp đơn
nhưng không thấy hồi âm.
Vì thế chúng tôi cảm thấy hơi thất vọng
và cũng hơi mất phương hướng.
Đúng là một số anh chị
có những mục tiêu thiêng liêng
nhưng cảm thấy thất vọng
khi mọi chuyện diễn ra không theo ý mình.
Vậy anh chị đã làm gì?
Chúng tôi đã cầu nguyện về điều đó,
và khi thấy Thái Lan là nơi có nhu cầu lớn
thì chúng tôi đã quyết định chuyển đến đó.
Tại sao lại là Thái Lan?
Vợ chồng em gái tôi
đã phụng sự ở đó trước rồi.
Vậy nên họ khuyến khích
chúng tôi thử chuyển đến đó.
Và ở thành phố Manchester,
nơi chúng tôi sống,
thì cũng có một nhóm tiếng Thái
nên cũng dễ cho chúng tôi
để đặt mục tiêu đến Thái Lan phụng sự.
Ở đó như thế nào?
Vâng, tuyệt vời lắm anh!
Nhưng mà cứ khoảng sáu tháng
thì vợ chồng chúng tôi
lại phải trở về Anh để làm việc.
Những người chú ý mà chúng tôi gặp
thì đều phải giao lại cho các anh chị khác.
Nên mỗi lần quay lại Thái Lan,
chúng tôi cảm giác như mình
phải bắt đầu lại từ đầu.
Thú thật thì trong lòng
chúng tôi chưa từ bỏ ước muốn
phụng sự ở Bê-tên Anh Quốc.
Nhưng chúng tôi biết là mình
cần phải đưa ra một quyết định dứt khoát
là mình sẽ tiếp tục phụng sự ở Thái Lan
hay là quay về Anh làm tiên phong đều đều.
Trong lúc đó,
chi nhánh Anh Quốc vẫn chưa gọi anh chị.
Vậy anh chị quyết định ra sao?
Sau nhiều lần tha thiết cầu nguyện,
chúng tôi quyết định chọn Thái Lan.
Tại sao anh chị đưa ra quyết định đó?
Vâng, sau khi cân nhắc những lựa chọn
thì yếu tố khiến chúng tôi quyết định
đó là Thái Lan có nhu cầu rất lớn
và có nhiều việc phải làm.
Vì thế chúng tôi quyết định
không tập trung vào điều mình muốn
mà tập trung vào Thái Lan.
Đối với chúng tôi,
quyết định này không hề dễ dàng.
Nếu thấy không dễ, thì sao anh chị
vẫn quyết định chuyển đến đó?
Vì điều đó khiến chúng tôi
phải bước ra khỏi vùng an toàn của mình.
Khi bước ra khỏi vùng an toàn,
thì chúng tôi phải hoàn toàn
nương cậy nơi Đức Giê-hô-va.
Và khi làm thế thì chúng tôi
ngày càng đến gần Đức Giê-hô-va hơn.
Cảm ơn chị.
Và cũng cảm ơn anh chị
đã dám bước ra khỏi vùng an toàn.
Vậy thánh chức ở Thái Lan thì ra sao?
Rất tuyệt vời anh ạ.
Đây là hình vợ chồng tôi
khi đi rao giảng ở Bangkok.
Chúng tôi đã gặp được
rất nhiều người chú ý ở đó.
Chủ yếu ở Thái Lan,
người ta theo đạo Phật
nhưng có rất nhiều người,
đặc biệt là những người trẻ,
đang tìm kiếm một điều gì đó khác
để thỏa mãn nhu cầu tâm linh của họ hơn.
Điều đó mở ra cơ hội
để chia sẻ về Kinh Thánh.
Thật ra chúng tôi có một video
cho thấy thánh chức ở Thái Lan ra sao.
Vậy mình cũng xem.
Chào mừng anh chị đến với Thái Lan.
Đây là vùng đất rực rỡ sắc màu,
tràn ngập hương thơm
của những món ăn đường phố
và được mệnh danh
là “Xứ sở của những nụ cười”
vì con người nơi đây rất thân thiện.
Lòng hiếu khách của người dân nơi đây
không chỉ là thói quen mà còn là lối sống.
Họ rất quý trọng gia đình và bạn bè.
Nhưng nhiều người vẫn đang tìm kiếm
một điều gì đó hơn thế nữa.
Họ đang tìm kiếm mục đích của đời sống,
là điều mang lại sự bình an lâu dài.
Trong số đó
có chị Kanitta và chị Narumon.
Khi lớn lên, tôi chứng kiến
những nhà lãnh đạo tôn giáo xung quanh mình
lẽ ra phải làm theo những gì họ dạy,
nhưng thực tế họ không làm vậy.
Từ khi còn nhỏ, tôi đã thắc mắc:
“Nếu những nhà lãnh đạo tôn giáo
không phải là người tốt,
vậy thì tại sao người ta vẫn tôn thờ họ?”.
Nhưng những người khác luôn nói với tôi là:
“Vì ngài ấy là nhà sư
nên mình phải luôn cúi lạy và tôn trọng”.
Nhưng đối với tôi, câu trả lời ấy
hoàn toàn không hợp lý một chút nào cả.
Cha tôi là một người cha rất tử tế,
hiền lành và yêu thương gia đình
nhưng chỉ có điều cha bị nghiện rượu.
Theo giáo lý của Phật giáo
thì người nghiện rượu
sẽ bị đày xuống địa ngục.
Giáo lý đó khiến tôi rất sợ hãi.
Vì không có người con nào
muốn cha mình bị đày xuống đó
nên tôi quyết định đến chùa
để tìm câu trả lời,
xem thử có cách nào
ngăn chặn điều đó không.
Họ nói là: “Không có cách nào khác nữa
vì công đức không thể xóa tội”.
Rồi họ nói thêm với tôi:
“Dù làm việc tốt cũng không thể bù đắp
cho những việc xấu xa.
Nhưng con có thể tích đức
qua việc cúng dường cho chùa.
Nhờ thế mà con có thể giúp cha phần nào
khi cha bị đày xuống địa ngục”.
Tôi không hài lòng với câu trả lời đó
nên tôi bắt đầu tìm hiểu
các tôn giáo khác dạy gì về điều này.
Từ khi còn nhỏ,
tôi đã được người lớn dạy rằng
cứ tin thôi, đừng hỏi nhiều.
Tôi thấy không được thuyết phục.
Những gì họ dạy
thì không dựa trên bằng chứng nào cả.
Nhưng tôi muốn có câu trả lời hợp lý hơn
nên tôi đã tham gia các nhóm
thảo luận về đề tài đổi đạo trên mạng xã hội.
Tôi thấy là có nhiều người
cũng muốn đổi đạo.
Nhiều người đã mời tôi đến nhà thờ.
Tôi thấy khá tò mò nhưng sợ không dám đi.
Lần nọ, tôi thấy một cuốn Kinh Thánh.
Tôi nghĩ cuốn sách này có thể giải đáp
những thắc mắc của tôi về đời sống.
Tôi rất tò mò
nên muốn mượn về nhà để đọc.
Nhưng họ nói là tôi phải mua.
Tôi hỏi họ giá bao nhiêu thì họ nói
khoảng 1000 bath (khoảng 31 đô-la).
Tôi nghĩ chắc là mình cũng có thể
đọc Kinh Thánh miễn phí trên mạng.
Vì thế tôi gõ từ “Kinh Thánh” trên Google
và bấm vào đường liên kết đầu tiên.
Khi tôi lướt xuống thì thấy có dòng chữ
“Chương trình tìm hiểu Kinh Thánh miễn phí”.
Sau này tôi mới biết đó là trang web jw.org.
Thế là tôi nghĩ:
“Có thật sự miễn phí không?”.
Nhưng tôi vẫn quyết định thử.
Thế là tôi điền thông tin của mình
và tự nhủ nếu mà họ nói là không miễn phí
thì tôi ngừng học luôn
và không liên lạc với họ nữa.
Rồi hai ngày sau,
có một chị gọi cho tôi.
Tôi hỏi chị ấy nhiều lần:
“Cái này có thật sự miễn phí không chị?”.
Và chị ấy nói: “Đúng rồi em,
cái này hoàn toàn miễn phí”.
Một hôm, tôi có dịp được ngồi ăn với sếp.
Sau khi đồ ăn được mang ra,
tôi thấy chị ấy nhắm mắt cúi đầu.
Tôi rất tò mò,
không hiểu tại sao chị ấy làm vậy.
Khi chị mở mắt ra
thì tôi liền hỏi chị ấy.
Chị nói rằng chị đang cầu nguyện tạ ơn.
chị là một tín đồ đạo Đấng Ki-tô
và đang cầu nguyện để cảm tạ Đức Chúa Trời.
Tôi nói: “Thật ra em đang muốn đổi đạo.
Vậy em cần phải làm gì hả chị?”.
Chị ấy nói: “Chị dạy Kinh Thánh miễn phí.
Em có muốn học không?”.
Và tôi đã ngay lập tức đồng ý.
Vào năm 2019,
tôi đã trải qua một nỗi mất mát lớn.
Đó là cha tôi qua đời.
Thành thật mà nói, dù tôi rất buồn
nhưng không còn sợ hãi như trước nữa
vì tôi biết cha của mình
không bị hành hạ dưới địa ngục.
Và tôi tin chắc là trong tương lai,
Đức Giê-hô-va sẽ làm cho cha tôi sống lại.
Tôi đã rất ấn tượng khi học bài 27
của sách Vui sống mãi mãi!.
Chị dạy Kinh Thánh cho tôi
đã giúp tôi hiểu là
tình yêu thương của Đức Giê-hô-va
và sự hy sinh của Chúa Giê-su
cho thấy Chúa Giê-su không chỉ nói
là ngài yêu thương mình
mà ngài còn thể hiện điều đó qua hành động.
Tôi nhận ra Chúa Giê-su
chính là Đấng lãnh đạo mà mình nên đi theo
vì ngài là đấng yêu thương và sẵn sàng hy sinh.
Chúng tôi rất vui khi thấy những người
như chị Narumon và Kanitta
chấp nhận và quý trọng chân lý.
Đó là lý do chúng tôi nỗ lực tìm kiếm
những người có lòng thành,
vì chân lý có thể thay đổi đời sống của họ.
Anh chị biết hai chị này không?
Dạ vâng.
Khi chúng tôi mới đến Thái Lan,
chị Narumon lúc đó
vẫn là học viên Kinh Thánh
và chúng tôi cùng hội thánh với nhau.
Giờ thì tôi hiểu sao anh chị
thích thánh chức ở đó đến vậy.
Thế có ai khác đã giúp anh chị
thích nghi với nhiệm sở này không?
Dạ nhiều lắm anh.
Đặc biệt là có một cặp vợ chồng giáo sĩ
từng tốt nghiệp Trường Ga-la-át.
Họ đã giúp chúng tôi
biết cách làm việc siêng năng
nhưng cũng giữ thăng bằng
và thích nghi với văn hóa địa phương.
Họ gợi ý chúng tôi có thể làm căn nhà của mình
thành nơi ấm cúng và thoải mái.
Nhờ thế, chúng tôi có thể được lại sức
để tiếp tục sốt sắng rao giảng
vào ngày hôm sau.
Thật tốt là họ đã giúp anh chị
qua những cách thực tế và gương của họ.
Vậy cho tôi xin hỏi:
Điều gì đã giúp anh chị
bắt đầu có ước muốn
làm nhiều hơn cho Đức Giê-hô-va?
Trong trường hợp của tôi thì là cha mẹ.
Họ rất yêu mến Đức Giê-hô-va.
Họ rất nhân từ, rộng rãi
và luôn tìm cách giúp đỡ anh em.
Khi tôi còn trẻ,
hai cha con tôi thường cùng nhau
tham gia xây cất Phòng Nước Trời.
Chúng tôi rất thích
làm việc chung với nhau.
Ngoài ra cũng có hai trưởng lão
trong hội thánh của tôi nữa.
Họ cũng là đồng nghiệp của tôi
và họ cũng giúp xây cất Phòng Nước Trời.
Cha và hai anh ấy đã giúp tôi
vun trồng tình yêu thương với Đức Giê-hô-va
và đặt các mục tiêu thiêng liêng.
Trong bức hình này là ai vậy?
Đó là tôi với ba mẹ.
Hình dễ thương quá.
Còn chị Julia thì sao?
Cha mẹ cũng đã nêu gương rất tốt cho tôi.
Mẹ đã báp-têm khi tôi còn nhỏ,
vài năm sau thì cha cũng báp-têm.
Và kể từ đó trở đi,
gia đình chúng tôi
luôn duy trì nề nếp thiêng liêng.
Điều này không dễ
vì cha mẹ tôi có tới bảy người con.
Nhưng dù có chuyện gì xảy ra đi nữa
thì chúng tôi luôn đi thánh chức
và luôn dự nhóm họp,
không hề có ngoại lệ.
Tôi vẫn nhớ như in mỗi lần đi học về
thì đều thấy mẹ
ngồi ở bàn và học hỏi cá nhân.
Còn mỗi sáng thức dậy, thì tôi luôn thấy
ba đang ngồi đọc Tháp Canh.
Tôi rất muốn bắt chước họ.
Tôi thấy rõ là cha mẹ
rất gần gũi với Đức Giê-hô-va.
Bé gái trong bức hình là chị à?
Dạ đúng, đó là hình tôi chụp với cha mẹ.
Kinh nghiệm của anh chị
giúp chúng tôi thấy
tầm quan trọng của các bậc cha mẹ,
giáo sĩ và các anh chị khác
dành thời gian để giúp những người trẻ
tin cậy Đức Giê-hô-va
và làm nhiều hơn cho ngài.
Cảm ơn anh Andy và chị Julia.
Chúng tôi rất thích nghe
kinh nghiệm của anh chị.
Chúng ta thấy Đức Giê-hô-va
có thể dùng bất cứ ai
để đáp ứng
nhu cầu tâm linh của chúng ta.
Anh chị có từng cảm nghiệm điều đó không?
Đức Giê-hô-va đang dùng anh chị như thế nào
để đáp ứng nhu cầu tâm linh của người khác?
Hỡi các bậc cha mẹ,
anh chị đáng được khen vì đang
nỗ lực hết sức để giúp con cái của mình
yêu mến Đức Giê-hô-va
và hết lòng phụng sự ngài.
Anh chị có thể thành công
dù người hôn phối chưa phụng sự Đức Giê-hô-va.
Hỡi các anh chị, dù là trưởng lão, phụ tá,
giáo sĩ, tiên phong hay người lớn tuổi,
anh chị đều góp phần huấn luyện
những người trẻ quý giá trong hội thánh.
Anh chị đóng vai trò quan trọng
trong việc giúp họ
dâng cho Đức Giê-hô-va điều tốt nhất.
Và rồi chính họ sẽ đáp ứng
nhu cầu tâm linh của những người khác nữa.
Mong anh chị được khích lệ
qua những phần phỏng vấn này
và hẹn gặp lại anh chị
trong tập tiếp theo của Chuyện chưa kể.
Cảm ơn anh Jeremy cùng tất cả
những anh chị tham gia.
Chúng tôi rất thích phần này.
Lòng chúng tôi rạo rực khi biết
còn có rất nhiều người có
lòng thành ngoài cánh đồng
đang khao khát chân lý.
Tôi không biết anh chị thì sao,
nhưng tôi đang rất muốn quay trở lại
nhiệm sở giáo sĩ của mình.
Nhưng rất tiếc,
chúng ta không thể tự chọn.
Ở phần mở đầu của chương trình
lễ mãn khóa này,
khi chúng ta xem xét về
những điều đã xảy ra
giữa Áp-ra-ham và Lót,
anh chị cảm thấy thế nào về Lót?
Anh chị có nghĩ Lót là người xấu không?
Anh David Splane,
một thành viên thuộc Hội đồng Lãnh đạo,
đã chọn xem xét và phân tích về Lót
theo một góc nhìn khác,
nhưng cũng rất quan trọng.
Bài của anh có tựa:
“Đừng vội nghi ngờ người khác”.
Tôi mới nhớ ra
là tháng tới
sẽ là tròn 60 năm
kể từ lúc tôi học trường Ga-la-át,
ở số 107
đường Columbia Heights.
Đó là một kỷ niệm đẹp.
Và 5 tháng sau,
chúng tôi có lễ mãn khóa
nên tôi nghĩ
mình đoán được vào lúc này,
anh chị đang
cảm thấy như thế nào.
Đây là một ngày đặc biệt
cho tất cả
các học viên tốt nghiệp trường.
Muốn cho anh chị biết
là chúng tôi thấy rất tự hào.
Anh chị đã rất siêng năng
và được
Đức Giê-hô-va ban phước.
Anh chị đã có mục tiêu thực tế
khi đi học trường
là không phải gây ấn tượng
với người khác
về kiến thức mà mình có,
nhưng
là để đến gần hơn
với Đức Giê-hô-va
và gần hơn với anh em đồng đạo.
Đây là điểm
mà tôi sẽ tập trung
triển khai trong bài này,
về mối quan hệ
của chúng ta
với các anh chị em.
Chúng ta biết
Đức Giê-hô-va hiểu rõ
tất cả mọi điều
về mỗi người trong chúng ta.
Vì lý do đó,
chúng ta có thể yên tâm
sự phán xét cuối cùng
sẽ được thực thi
một cách công chính
vì ngài không bỏ sót
một chi tiết nào.
Đức Giê-hô-va
sẽ không xem nhẹ
hoặc quên
bất cứ điều gì chúng ta làm.
Lúc đó,
ngài sẽ cân nhắc mọi khía cạnh
về đời sống chúng ta.
Ngược lại,
như ở 1 Sa-mu-ên 16:7,
Đức Chúa Trời nói:
“Loài người chỉ nhìn bề ngoài”.
Chúng ta không thể nào
có đầy đủ
mọi thông tin cần thiết
để đưa ra nhận định của mình
về một người nào đó.
Giống như anh Rumph đã nói,
chúng ta sẽ phân tích ví dụ
về trường hợp của Lót.
Câu hỏi ở đây là:
Mình có thể rút ra bài học nào
về việc tin cậy
và đừng vội
nghi ngờ người khác
khi phân tích trường hợp
của Lót?
Nói cho anh chị biết
tôi và anh Rumph
đã thảo luận với nhau
khi soạn bài giảng.
Chúng tôi ăn ý lắm đó!
Sứ đồ Phi-e-rơ
cũng nhắc đến gương của Lót.
Hãy cùng đọc những gì ông viết
ở sách 2 Phi-e-rơ.
Hai Phi-e-rơ chương 2,
chúng ta sẽ cùng đọc câu 7
và câu 8.
Đây là những lời miêu tả
về Lót.
Tôi sẽ chờ anh chị.
Nếu anh chị
bị viêm khớp tay giống tôi
thì cũng phải
mất thời gian để tìm thấy.
Hai Phi-e-rơ 2:7, 8,
Đức Giê-hô-va
đã làm gì cho Lót?
“Ngài cũng giải cứu
người công chính Lót,
là người rất sầu não
về hành vi trâng tráo
của những kẻ gian ác”.
Tại sao?
“Vì ngày qua ngày,
tâm hồn ngay thẳng
của người công chính ấy
bị đau đớn
bởi những hành vi gian ác
mà ông thấy và nghe
khi sống giữa họ”.
Vậy,
ai
đã gọi Lót
là “người công chính”?
Có phải
là quan điểm riêng
của Phi-e-rơ không?
Không.
Vì đây
là lá thư thứ hai
mà ông được soi dẫn
để viết ra.
Vì vậy,
ông đã được
thần khí thánh thúc đẩy
để dùng tính từ này
miêu tả về Lót.
Chính thần khí
đã thúc đẩy Phi-e-rơ
để gọi Lót vài lần
là “người công chính”.
Nhưng
ai dùng thần khí thánh?
Là Đức Giê-hô-va.
Vì thế,
khi chúng ta đọc
cụm từ “người công chính”
được lặp lại,
thì đây là cách Đức Giê-hô-va
cho mình thấy
quan điểm của ngài
về Lót.
Còn anh chị thì sao?
Anh chị nghĩ Lót có phải
là người công chính không,
hay đôi khi chúng ta
chỉ tập trung
vào khuyết điểm của ông?
Một số người có thể nói:
“Khi chú của Lót là Áp-ra-ham
cho ông chọn nơi nào
ông muốn sống ở xứ Ca-na-an,
thì Lót đã chọn phần tốt nhất.
Đáng lẽ
ông phải cho
chú mình chọn trước.
Điều này cho thấy
ông ích kỷ không?”.
Khi anh chị
đọc lời tường thuật này
và không thấy hết
những thông tin chi tiết
được đề cập trong đó,
thì anh chị thấy
mình kết luận như vậy
nghe có vẻ hợp lý.
Nhưng
Lót có thật sự ích kỷ không?
Hay là
anh chị đang thiếu một số
thông tin chi tiết nào đó
và những thông tin này
có thể giúp mình thấy
bức tranh tổng thể
và điều chỉnh lại quan điểm?
Chẳng hạn, ví dụ như
dù Lót
là cháu ruột của Áp-ra-ham
nhưng cũng có thể
ông lớn hơn Áp-ra-ham,
thậm chí lớn hơn nhiều tuổi.
Điều này có làm thay đổi
quan điểm của anh chị không?
Các thành viên Bê-tên thì có.
Thâm niên đó.
Anh chị biết ở Bê-tên
khi có một số phòng còn trống,
chúng tôi có một cách
rất thú vị
để quyết định
ai sẽ được ở phòng nào.
Chúng tôi không bốc thăm,
không tung đồng xu,
cũng không chơi trò oẳn tù tì.
Chúng tôi không vật tay
mà chọn theo thâm niên.
Với những thành viên
nào hội đủ điều kiện,
họ sẽ được đi xem mỗi phòng
và nếu một người
thấy thích một phòng nào đó,
anh ấy có thể
cho văn phòng Bê-tên biết.
Nhưng nếu hai người
cùng thích một phòng
thì phải làm sao?
Thì căn phòng đó
sẽ được giao lại cho ai
có thâm niên cao hơn,
tức là người đã phụng sự
trọn thời gian
lâu hơn người kia.
Anh chị nào không nhận
được phòng mình thích,
họ không thể nói với người
đã nhận được phòng rằng:
“Anh chị thật ích kỷ.
Tôi thích phòng đó mà.
Nên nhường cho tôi mới đúng”.
Không.
Ai lâu năm hơn
sẽ nhận được phòng.
Đơn giản là như vậy.
Vậy giả sử như Lót
lớn tuổi hơn chú của mình,
có thể đủ tuổi để làm
cha của Áp-ra-ham.
Chúng ta
không chắc về điều này.
Vì có một vài chi tiết
không được đề cập
trong sách Sáng thế.
Nhưng có một vài
sự thật thú vị.
Áp-ra-ham có hai người anh
là Na-cô và Cha-ran.
Và rất có thể Áp-ra-ham
là người
nhỏ nhất trong gia đình.
Tại sao chúng ta
có thể nói như vậy?
Cha của Áp-ra-ham
bao nhiêu tuổi
khi ông được sinh ra?
Có phải 60 tuổi không?
Không.
Hay là 100 tuổi?
Cũng không.
Cha của Áp-ra-ham
được khoảng 130 tuổi
vào lúc Áp-ra-ham
được sinh ra.
Thật nghịch lý phải không?
Áp-ra-ham
đã từng nghĩ là mình đã quá già
để làm cha vào lúc 100 tuổi,
nhưng mà cha ông
lúc khoảng 130 tuổi
thì sinh ra ông.
Vậy thì
rõ ràng là Áp-ra-ham
đã có hai người anh trai
và khi chúng ta đọc Kinh Thánh
cũng như tính toán một chút
thì mình nhận ra điều gì?
Mình thấy được là
lúc người anh lớn nhất
được 60 tuổi
thì Áp-ra-ham
mới được sinh ra.
Và đó có thể là cha của Lót
vì ông là
người đầu tiên qua đời.
Vào thời đó,
đàn ông thường
có con vào khoảng 30 tuổi.
Vậy
nếu cha của Lót được 60 tuổi
khi Áp-ra-ham sinh ra,
thì có lẽ nào lúc đó
Lót đã là một thiếu niên
hay thậm chí là
một người trưởng thành?
Anh chị nghĩ sao?
Nếu đúng như vậy
thì Áp-ra-ham chỉ đơn giản
là muốn nhường
để cho cháu mình là Lót
chọn phần trong Đất Hứa
vì ông lớn tuổi hơn.
Tương tự,
nếu anh chị được
chọn phòng vì có thâm niên
thì tôi nghĩ anh chị
sẽ không tranh cãi
về điều này đâu.
Nhưng sẽ có người nói là:
“Nghe thì hợp lý đó
nhưng không có bằng chứng
cho thấy Lót
lớn tuổi hơn Áp-ra-ham
vì Kinh Thánh
không nói như vậy”.
Mà thật ra,
nói ông nhỏ hơn
thì cũng đâu có bằng chứng.
Bài giảng này
không phải để tìm bằng chứng,
cũng không tập trung vào Lót.
Ông chỉ là một ví dụ.
Điểm chính ở đây là
chúng ta cần tránh
vội nghi ngờ động cơ
của người khác
khi mình không có đủ thông tin.
Và trong trường hợp này
chúng ta
không biết mọi thông tin.
Nhưng mà
nói sao về điểm này:
“Lót không thỏa lòng
khi phải sống trong lều,
ông muốn cuộc sống
thoải mái hơn
nên ông đã chọn
sống ở thành Sô-đôm.
Vậy thì có phải
ông ham mê vật chất không?”
Anh chỉ có thể nghĩ vậy?
Nhưng
chúng ta có biết
mọi thông tin không?
Mình có thực sự hiểu
điều gì đã khiến Lót
chọn thành Sô-đôm không?
Có phải là vì ông
muốn đời sống tiện nghi hơn?
Hay là vì ông muốn tìm một nơi
an toàn
cho gia đình mình?
Hãy nhớ rằng
Lót
từng bị bắt cóc.
Nếu từng bị bắt cóc,
anh chị có thấy yên tâm
khi để gia đình mình
sống trong lều ngoài đồng,
hay là
sẽ cảm thấy an toàn hơn
khi sống trong thành?
Hãy nghĩ đến
các anh chị của chúng ta
đang sống trong
những khu phố nguy hiểm.
Không phải vì họ muốn như vậy,
không phải họ muốn
có đời sống thoải mái hơn
ở thành phố lớn
nhưng là vì
họ không có nhiều lựa chọn.
Thật ra Phi-e-rơ
cũng biết mọi điều
mà chúng ta biết
về Lót
nhưng ông đã gọi Lót
là một “người công chính”,
không phải là người ích kỷ,
không phải là người
ham mê vật chất,
mà là “người công chính”.
Lót không được gọi là công chính
vì ông rời khỏi thành Sô-đôm.
Đức Giê-hô-va quyết định
cứu Lót khỏi thành Sô-đôm
vì trước đó ông
đã là người công chính
và làm những điều
mà Đức Giê-hô-va xem
là công chính.
Giả sử như,
Lót đã ích kỷ
khi ông chọn lấy phần
đất tốt nhất
và có lẽ ông
là người mê vật chất
khi đưa cả gia đình
đến thành Sô-đôm.
Nếu thật sự đúng như vậy
thì chắc hẳn
cũng phải có
những điều khác nữa,
là những điều tốt mà Lót đã làm
để Đức Giê-hô-va có thể gọi ông
là người công chính,
chỉ là mình không biết đó là gì.
Vậy điều quan trọng là
chúng ta phải nhìn
vào bức tranh toàn cảnh
mà đôi khi không
có đầy đủ mọi chi tiết
để mình có thể nhìn.
Nếu chúng ta đưa ra kết luận
mà không có mọi thông tin,
chẳng khác gì
chúng ta tự đào hố chôn mình.
Điều này đã xảy ra
với dân Y-sơ-ra-ên
sau khi họ chinh phục
được một phần của Đất Hứa.
Chi phái Ru-bên,
chi phái Gát
và phân nửa chi phái Ma-na-se
đã ở lại khu vực
phía đông của sông Giô-đanh
vì vùng đất ấy có nhiều đồng cỏ
cho bầy gia súc của họ.
Anh chị hãy cùng
đọc với tôi lời tường thuật này
ở Giô-suê chương 22
và xem điều gì đã xảy ra.
Sách Giô-suê
chương 22,
và chúng ta cùng đọc câu 10.
Giô-suê 22:10:
“Khi đến vùng sông Giô-đanh
thuộc xứ Ca-na-an
thì chi phái Ru-bên,
chi phái Gát
và một nửa chi phái Ma-na-se
xây một cái bàn thờ lớn
và nguy nga
gần sông Giô-đanh”.
Thay vì tin cậy và
nghĩ tích cực về anh em mình,
dân Y-sơ-ra-ên đã vội tin rằng
những chi phái ở phía đông
đang phản nghịch Đức Giê-hô-va.
Thậm chí họ còn muốn
đánh các chi phái đó.
Nhưng mình biết gì về
những chi phái ở phía đông?
Trước đó,
họ đã chiến đấu vai kề vai
cùng dân Y-sơ-ra-ên
khi chinh phục Đất Hứa.
Không chỉ thế,
họ còn liều mạng
để giúp anh em mình.
Làm sao chúng ta biết?
Vì họ được đặt
ở tuyến đầu của trận chiến.
Những chi phái này
luôn là người
đầu tiên tham chiến,
vì thế
họ luôn phải chiến đấu
ở những vị trí nguy hiểm nhất.
Họ rất dũng cảm.
Không có ai
trong số các chi phái này
thể hiện một chút
khuynh hướng bội đạo nào cả.
Nhưng
thay vì tin cậy
và không vội nghi ngờ
anh em mình,
các chi phái còn lại
đã cùng đến để gặp họ
và nói những lời được ghi lại
từ câu 16 đến 18.
Câu 16 đến 18:
“Đây là điều toàn thể dân
của Đức Giê-hô-va nói:
‘Sao anh em
lại hành động bất trung
mà phạm tội nghịch cùng
Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên?
Ngày nay,
anh em đã từ bỏ Đức Giê-hô-va
khi xây cho mình
một cái bàn thờ
và phản nghịch Đức Giê-hô-va.
Lỗi lầm chúng ta đã phạm
tại Phê-ô chưa đủ hay sao?
Mặc dù tai họa đã giáng
trên dân của Đức Giê-hô-va,
nhưng đến nay
chúng ta vẫn chưa thể
tẩy sạch mình khỏi tội lỗi ấy.
Vậy mà
hôm nay anh em
lại từ bỏ Đức Giê-hô-va!
Nếu hôm nay
anh em phản nghịch
Đức Giê-hô-va
thì ngày mai
ngài sẽ nổi cơn thịnh nộ
với toàn thể dân Y-sơ-ra-ên’”.
Câu chuyện
chưa dừng lại ở đó,
họ còn nói rất nhiều điều.
Cho tới khi
những người đại diện
cho mười chi phái nghỉ lấy hơi.
Những trưởng lão của chi phái
còn lại mới nói rằng
bàn thờ này
không phải để thờ phượng
mà đã được xây lên
để nhắc các chi phái
ở phía kia sông Giô-đanh
rằng các chi phái ở phía đông
cũng thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Hãy hình dung,
thầy tế lễ thượng phẩm
và các trưởng lão
của Y-sơ-ra-ên
đã xấu hổ đến mức nào
khi nghĩ xấu về anh em mình?
Như ở phần đầu bài giảng,
chúng ta tin chắc rằng
Đức Giê-hô-va biết mọi điều
về mình.
Vì thế điều hợp lý là
Khi mình càng hiểu rõ
về anh em đồng đạo,
biết rõ hoàn cảnh gia đình,
những thử thách
họ đang đối mặt
thì mình sẽ dễ
có cái nhìn tích cực hơn
về anh em.
Khi nhận ra họ đã phải nỗ lực
tranh đấu để có thể
tiếp tục trung thành,
chúng ta muốn yêu thương họ
và luôn
muốn suy nghĩ tích cực
về gia đình thiêng liêng của mình.
Đôi khi chúng ta
có hơi bực bội về một anh chị,
nhưng rồi mình nhớ
về hoàn cảnh xuất thân
của người đó.
Có thể họ không có
người thân cùng đức tin
và có lẽ người này trước đây
sống rất vô luân.
Thật ra họ rất đáng quý.
và Đức Giê-hô-va yêu quý họ.
Vì vậy,
khi có ai đó
khiến mình khó chịu,
chúng ta cần tự hỏi:
“Đức Giê-hô-va
có xem đây
là một người công chính không?
Là một nam tín đồ
hoặc một nữ tín đồ công chính
dù anh chị ấy khiến mình bực bội.
Nhưng trong mắt Đức Giê-hô-va
đây là một người công chính.
Vậy vấn đề là
do chúng ta chỉ thấy
điều khiến mình khó chịu
mà không thấy
bức tranh tổng thể?”.
Nhiều năm trước
ở một nhà Bê-tên khác,
có một anh trẻ
đã cùng làm việc
với một chị lớn tuổi
trong một thời gian dài.
Chị ấy và chồng
đều là những người
được xức dầu.
Chồng chị
là người thân thiện
và rất hiền lành.
Còn chị
là một người rất trung thành.
Hãy nghĩ tích cực
và không nghi ngờ.
Nhưng nếu anh chị
không hoàn thành công việc
theo đúng ý chị
thì hãy cẩn thận coi chừng nha.
Có lẽ chị ấy xem mình
như một người bà,
thay vì là một chị với mọi người.
Tôi quý cách anh trẻ này cư xử
như một người trưởng thành.
Thay vì tức giận
và nói,
“Chị ấy làm gì có quyền
mà nói chuyện
với một anh như vậy”,
thì anh đã mời
cặp vợ chồng này dùng bữa
và biết được
sự chịu đựng trung thành
của họ khi công việc
bị cấm ở nước này.
Nhờ dịp đó,
anh đã có cái nhìn khác hơn
đối với chị
và mong là
chị ấy cũng có
quan điểm khác về anh.
Vậy khi một anh chị nào đó
làm mình cảm thấy khó chịu
thì hãy cố gắng hiểu thêm về họ
khi dành thời gian
cùng đi thánh chức với nhau
hoặc cùng uống cà phê chung.
Càng hiểu họ
thì càng thương họ.
Vậy hãy nhớ để ý
nếu có ai
mời mình uống cà phê.
Một người có thể nhút nhát
hoặc có khuôn mặt
lúc nào cũng nghiêm túc.
Anh ấy có thể ít cười
và mình có thể cho rằng
anh này lạnh lùng,
kiêu ngạo,
thiếu yêu thương.
Nhưng không hẳn là như vậy.
Biết sao được,
sinh ra đã có
khuôn mặt như vậy rồi.
Vì vấn đề sức khỏe kém
hoặc một số trở ngại khác,
một người có thể không làm
được nhiều bằng chúng ta.
Có lẽ họ không nói
vấn đề của mình
cho người khác,
nên chúng ta nghĩ rằng
người đó lười biếng.
Nhưng Đức Giê-hô-va thấy
người đó đang làm hết mình.
Mặt khác,
nếu có một người
nhiều năng lượng
và làm được
nhiều việc hơn chúng ta,
mình có nghĩ là
người ấy đang cố thể hiện
là giỏi hơn chúng ta không?
Nhưng đó có lẽ là
cách họ được huấn luyện
hoặc nuôi dạy
và họ đang dâng
cho Đức Giê-hô-va
điều tốt nhất.
Khi trong công tác vòng quanh,
tôi từng đến thăm một hội thánh
và nghe rất nhiều
lời nói tiêu cực về một chị.
Một số người nói:
“Chị ấy nói mình bị bệnh.
Nhưng mà có người
thấy chị đi siêu thị.
Chị có đủ sức mà.
Sao đi mua đồ ăn được
mà lại không
đi nhóm họp được?”.
Tôi mừng vì mình
đã đến thăm chị ấy.
Nhờ vậy,
tôi biết chị mắc một căn bệnh
rất nghiêm trọng
và lúc nào
cơ thể của chị cũng đau đớn.
Nhưng cũng có lúc
cơn đau dịu lại một chút.
Khi đó,
chị sẽ tận dụng cơ hội
để mua một ít đồ ăn
vì chị sống một mình
và không có ai giúp đỡ.
Khi cơn đau tái phát,
gần như
chị phải nằm liệt giường.
Chẳng phải sẽ tốt hơn
nếu mọi người giúp đỡ chị
thay vì vội chỉ trích phải không?
Như tôi đã nói,
bài giảng này
không có ý
để chứng minh
bất cứ điều gì về Lót
hoặc về bất cứ ai.
Mục tiêu là
để nhắc chúng ta nhớ
Đức Giê-hô-va là đấng duy nhất
biết mọi điều.
Ngài yêu thương các anh chị em
và ngài muốn
mình cũng làm như vậy.
Ngài sẽ hài lòng
khi mình
không vội nghi ngờ người khác.
Chúng tôi biết anh chị sẽ làm thế
khi kề vai sát cánh
phụng sự với anh em đồng đạo.
Chúng tôi
yêu thương anh chị rất nhiều.
Mong sao
Đức Giê-hô-va
ban thật nhiều
ân phước cho anh chị.
Giờ đây,
anh chị có muốn biết các học viên
sẽ đi đâu không?
Chắc chắn có.
Đây sẽ là một phần rất hào hứng.
Và chúng ta có anh Ronald Curzan,
anh sẽ giúp chúng ta trong
phần đọc tên và trao bằng
cho các học viên yếu dấu
của Trường Ga-la-át.
Trước tiên, chúng ta có anh Ajavon.
Anh sẽ trở lại chi nhánh Tây Phi.
Tiếp theo là anh chị Alimănescu.
Họ sẽ trở lại chi nhánh Ru-ma-ni.
Anh chị Alton được bổ nhiệm
đến chi nhánh Zambia.
Anh Arsiashvili sẽ trở lại chi nhánh Georgia.
Anh chị Bueche sẽ trở lại chi nhánh Hoa Kỳ.
Anh chị Capece sẽ trở lại
chi nhánh Mozambique
Anh chị Carlisle được bổ nhiệm
đến chi nhánh Bồ Đào Nha.
Anh chị Carmichael sẽ trở lại
chi nhánh Hoa Kỳ.
Anh chị Carraway được bổ nhiệm đến
chi nhánh Zambia.
Anh Collymore được bổ nhiệm
đến chi nhánh Tây Phi.
Anh Figely sẽ trở lại
chi nhánh Czech-Slovak.
Anh Fujita sẽ trở lại chi nhánh Nhật Bản.
Anh chị Gatembasi được bổ nhiệm
đến chi nhánh Rwanda.
Anh chị Girma sẽ trở lại chi nhánh Ethiopia.
Anh chị González sẽ trở lại
chi nhánh Tây Ban Nha.
Anh chị Hayega sẽ trở lại
chi nhánh Tây Phi.
Anh chị Herron được bổ nhiệm
đến chi nhánh Nigeria.
Anh chị Hugó sẽ trở lại
chi nhánh Scandinavia.
Anh chị Lagavakatini sẽ trở lại
chi nhánh Fiji.
Anh chị Lattanzi được bổ nhiệm
đến chi nhánh Tây Ban Nha.
Chị Lin sẽ trở lại chi nhánh Đài Loan.
Anh Lopes được bổ nhiệm đến
chi nhánh Nam Phi.
Anh MacDonald sẽ trở lại
chi nhánh Hoa Kỳ.
Anh chị Mauri sẽ trở lại chi nhánh Úc Á.
Anh Mutahi sẽ trở lại chi nhánh Đông Phi.
Anh Nelson sẽ trở lại chi nhánh Scandinavia.
Anh chị Osogu sẽ trở lại chi nhánh Nigeria.
Anh Peralta sẽ trở lại chi nhánh Colombia.
Chị Šakić sẽ trở lại chi nhánh Croatia.
Anh chị Spina được bổ nhiệm
đến chi nhánh Rwanda.
Anh Terrell sẽ trở lại chi nhánh Hoa Kỳ.
Anh Vaitiekus sẽ trở lại
chi nhánh Phần Lan.
Anh Yoon sẽ trở lại chi nhánh Hoa Kỳ.
Anh Zapp sẽ trở lại chi nhánh Hoa Kỳ.
Giờ đây,
anh chị có muốn thấy cả lớp không?
Xin hãy kéo rèm lên.
Chúng tôi rất tự hào về anh chị.
Chúng tôi biết anh chị đã nỗ lực rất nhiều
trong thời gian học trường
và chúng tôi vui mừng khi thấy
anh chị tốt nghiệp
và được Đức Giê-hô-va
ban phước dồi dào.
Giờ đây, đã đến phần đọc thư của cả lớp.
Anh Aidan Mauri đến từ chi nhánh Úc Á
sẽ phụ trách phần này.
Các anh Hội đồng Lãnh đạo thân mến,
chúng tôi muốn bày tỏ
lòng biết ơn sâu sắc
về đặc ân vô giá là được tham gia
trường Kinh Thánh Ga-la-át
của Hội Tháp Canh.
Từ khi đến đây,
chúng tôi đã được các anh
cũng như gia đình Bê-tên
chào đón nồng ấm,
thể hiện tình yêu thương.
Những điều đó giúp chúng tôi càng háo hức
về đại tiệc thiêng liêng
mà chúng tôi sẽ nhận.
Cảm ơn các anh đã dành thời gian quý báu
để đến thăm lớp chúng tôi.
Sự dạy dỗ của các anh,
nỗ lực đầy yêu thương
của những anh trợ giúp
và các giảng viên
cùng với sự hỗ trợ của các anh chị
trong Ban Trường thần quyền
đã tác động đến lòng chúng tôi
một cách sâu sắc,
và giúp chúng tôi
“thấy Đấng Dạy Dỗ Vĩ Đại của mình”.
Trong suốt khóa học,
chúng tôi được giúp để thấy
và quý trọng lòng trắc ẩn dịu dàng,
tình yêu thương bất vị kỷ
của Đức Giê-hô-va hơn bao giờ hết.
Kể từ khi nhân loại rơi vào vòng tội lỗi,
Đức Giê-hô-va đã làm mọi điều có thể
để giúp con người hòa thuận lại với ngài.
Khi suy ngẫm về lời hứa trong vườn Ê-đen,
những giao ước Đức Giê-hô-va lập
với Áp-ra-ham và Đa-vít
cũng như những đặc điểm tuyệt vời
của Luật pháp Môi-se,
đặc biệt là Ngày Chuộc Tội,
chúng tôi càng biết ơn sự hy sinh
làm giá chuộc của Chúa Giê-su.
Chúng tôi cũng càng tin chắc nơi
tình yêu thương của Đức Giê-hô-va
khi nghiên cứu về đời sống
và thánh chức của Chúa Giê-su,
cũng như việc ngài phản ánh
hoàn hảo các phẩm chất của Cha.
Chúng tôi đặc biệt cảm động khi thấy
sự kiên nhẫn ngài thể hiện với các sứ đồ,
sự tử tế và tôn trọng mà ngài dành cho phụ nữ
và tình yêu thương bất vị kỷ mà ngài thể hiện
khi chịu đau đớn và chết trên cây khổ hình.
Thật biết ơn khi chúng ta có
Chúa Giê-su là Vua đang cai trị
và Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm đầy lòng trắc ẩn.
Việc xem xét các lời tiên tri
đã được ứng nghiệm trong Kinh Thánh
củng cố niềm hy vọng của chúng tôi
nơi những lời hứa của Đức Giê-hô-va,
và giúp chúng tôi càng can đảm hơn
trong những ngày phía trước.
Chẳng hạn, khải tượng của
Xa-cha-ri về bốn cỗ xe
tiến đến bốn góc của trái đất
và “tinh thần của Đức Giê-hô-va
dịu lại ở miền bắc”
trấn an chúng tôi rằng các thiên sứ
đầy quyền năng của Đức Giê-hô-va
sẽ hành động giống như một đạo quân
để bảo vệ dân ngài,
cả vào thời xưa lẫn thời nay.
Ngay cả khi tình trạng thế giới ngày càng tệ đi,
việc biết rằng đạo quân thiên sứ
đang ở cùng chúng ta
giúp chúng tôi càng can đảm trong khi
bênh vực quyền tối thượng của Đức Giê-hô-va
ngay bây giờ và trong hoạn nạn lớn.
Lòng sốt sắng dành cho thánh chức
của chúng tôi cũng được gia tăng
qua những phần thực tập dựa trên sách
Tình yêu thương giúp đào tạo môn đồ.
Chúng tôi rất thích các màn trình diễn
cho thấy những phẩm chất
mà chúng tôi cần có
khi rao giảng trong
những hoàn cảnh khác nhau.
Những kinh nghiệm này giúp chúng tôi càng
muốn chia sẻ tin mừng về Nước Trời
với tình yêu thương, sự nồng ấm
và tinh thần khẩn cấp hơn
khi “lúa đã chín và đang chờ gặt hái”.
Chúng tôi muốn nỗ lực hết sức
để áp dụng mọi điều
mà Đấng Dạy Dỗ Vĩ Đại đã dạy chúng tôi
trong suốt 5 tháng vừa qua.
Chúng tôi quyết tâm noi gương đầu
của hội thánh là Đấng Ki-tô
khi chúng tôi phụng sự
“kề vai sát cánh” với các anh
và đoàn thể anh em quốc tế
để ngợi khen và tôn vinh
Cha trên trời là Đức Giê-hô-va.
Thân mến,
khóa thứ 159 của Trường Ga-la-át.
Giờ đây, chúng tôi muốn chia sẻ
với anh chị những lời cuối.
Anh chị còn nhớ câu hỏi
được nêu ra trước đó không?
Khi các quyết định của Lót
bắt đầu khiến ông gặp một số hậu quả,
Áp-ram đã phản ứng như thế nào?
Ông đã làm gì?
Điều này dẫn chúng ta đến nỗi sợ thứ ba.
Đó là nỗi sợ quên đi quá khứ,
tức sợ mình quên mất cách
mà ai đó đã xúc phạm
hoặc khiến mình tổn thương.
Chúng ta biết là không lâu sau khi Lót
chuyển đến sống ở vùng
Sô-đôm và Gô-mô-rơ
thì có một cuộc chiến đã xảy ra.
Ông và gia đình bị kẻ thù bắt đi.
Giả sử Áp-ram vẫn còn một chút
oán giận với Lót
thì theo anh chị, Áp-ram đã có thể nghĩ gì?
“Thật đáng đời!
Lót đáng bị như vậy.
Nó cần bài học nhớ đời đó”.
Ông đã có thể nghĩ như thế.
Nhưng Áp-ram đã làm gì?
Mời anh chị mở đến Sáng thế chương 14.
Sách Sáng thế chương 14.
Trong tình huống này,
Áp-ram đã có thể lo sợ rằng
nếu mình quên đi quá khứ
thì có nghĩa là ông dung túng
hoặc giảm nhẹ
những điều mà Lót đã làm với mình,
phải vậy không?
Nhưng anh chị hãy lưu ý,
sau khi nghe chuyện xảy ra với Lót,
Áp-ram đã làm gì nơi Sáng thế 14:14?
Câu 14 nói:
“Thế là
Áp-ram biết tin cháu mình bị bắt.
Ông bèn tập hợp
những người được huấn luyện,
là 318 tôi tớ sinh ra trong nhà ông.
rồi lên đường
đuổi theo đến tận Đan”.
Đó là điều Áp-ram đã làm.
Chúng ta biết là từ Mam-rê đến Đan
là khoảng 200 km về phía bắc.
Có lẽ Áp-ram mất vài ngày để đi
và dĩ nhiên, chuyến đi này cũng
tốn kém và nguy hiểm.
Nhưng ông vẫn làm thế dù không dễ.
Rồi sau đó,
nơi Sáng thế 14:21-23 cho biết
Áp-ram đã có cơ hội để lấy chút tài sản
vì ông đã nỗ lực giúp đỡ Lót
nhưng ông đã từ chối
vì ông không hề có động cơ ích kỷ.
Áp-ram khiêm nhường
và sẵn sàng
giúp đỡ Lót khắc phục những hậu quả
từ chính quyết định
mà đã có thể gây ra vấn đề giữa họ.
Áp-ram tập trung vào việc làm hòa.
Ông quyết tâm quên đi quá khứ.
Vậy chúng ta rút ra bài học
nào từ gương của Áp-ram?
Anh chị có bao giờ nhường nhịn ai chưa?
Có lẽ anh chị là người duy nhất
có ý kiến khác với mọi người
và anh chị đồng ý làm theo
những gì người khác nói.
Nhưng rồi kế hoạch của họ thất bại.
Đó hẳn là cơ hội tốt để nói:
“Tôi đã nói rồi mà, sao không nghe?”
hoặc đi nói với tất cả mọi người
là mình không hề ủng hộ
kế hoạch đó từ lúc ban đầu.
Chắc chúng ta từng làm thế phải không?
Hãy kháng cự khuynh hướng
nuôi lòng oán giận.
Hãy bắt chước Áp-ram.
Hãy nỗ lực ủng hộ một quyết định
ngay cả khi chúng ta không đồng ý
với quyết định đó.
Và nếu quyết định ấy thất bại,
hãy noi gương Áp-ram.
Hãy khiêm nhường như Áp-ram
và giúp khắc phục vấn đề
thay vì đổ lỗi cho người khác
về những điều đã xảy ra.
Tại sao?
Vì khi làm thế,
anh chị đang tạo sự hòa thuận.
Và nếu tạo sự hòa thuận với người khác,
anh chị sẽ được hòa thuận
với Đức Chúa Trời.
Và đó là điều chúng ta muốn hơn
bất cứ điều gì khác.
Vậy chúng ta học được gì từ ba nỗi sợ này?
Chúng ta học được rất nhiều từ Áp-ram.
Áp-ram là người tạo sự hòa thuận.
Ông không sợ bị xem là yếu đuối,
không sợ bị lợi dụng
và cũng không sợ quên đi quá khứ.
Áp-ram có chịu thiệt thòi vì
những quyết định đó không?
Chúng ta không biết là
liệu Lót có bao giờ quý trọng
những nỗ lực của Áp-ram trong
việc làm hòa hay không?
Kinh Thánh không nói,
như chúng ta nghe trong
bài giảng của anh Splane.
Nhưng điều đó không quan trọng,
vì đó không phải là lý do chính mà
Áp-ram nỗ lực làm hòa.
Vậy điều gì quan trọng?
Một điều thú vị là ngay sau
những lời tường thuật
về những lần Áp-ram
nỗ lực làm hòa với Lót,
hoặc ông cho thấy là
ông đang làm hòa với Lót
thì Đức Giê-hô-va đã làm một
điều đặc biệt cho Áp-ram.
Bắt đầu từ Sáng thế 13:14
đến Sáng thế 15:1,
Đức Giê-hô-va đã cho Áp-ram biết
là ngài chấp nhận và yêu thương ông.
Đó chính là điều Áp-ram muốn.
Ông muốn đi đến bàn thờ.
Ông muốn được hòa thuận
với Đức Chúa Trời.
Và đó chính là điều mà ông có được.
Vậy khi anh chị cảm thấy khó
để làm hòa với người khác,
dù là những anh chị làm việc tại Bê-tên,
anh em trong hội thánh
hay các thành viên trong gia đình,
thì đừng bỏ cuộc.
Hãy vượt qua nỗi sợ
bằng cách khiêm nhường,
tìm đến người mà anh chị đang có bất đồng,
và cố gắng hết sức để làm hòa.
Điều đó có dễ không?
Không.
Liệu người mà anh chị
đang cố gắng đến làm hòa
sẽ hưởng ứng tích cực không?
Có lẽ không.
Nhưng Đức Chúa Trời
sẽ chấp nhận anh chị.
Và rồi thì sao?
Anh chị sẽ trở lại bàn thờ
và dâng lễ vật.
Đức Giê-hô-va sẽ ở đó.
Ngài sẽ đợi anh chị và
sẵn sàng nhận lễ vật của anh chị.
Tại sao?
Vì anh chị đã nỗ lực
để làm hòa với người khác.
Các học viên khóa 159 của
Trường Ga-la-át thân mến,
chúng tôi yêu thương anh chị
và chúng tôi cầu xin Đức Giê-hô-va
tiếp tục ban phước cho anh chị
ở bất cứ nơi nào anh chị đến.
Những bài giảng khích lệ khác
từ chương trình lễ mãn khóa
sẽ sớm được đăng trên JW.ORG
và trên ứng dụng JW Library.
Trước khi kết thúc,
chúng ta sẽ đến thăm anh em tại Úc.
Quốc gia rộng lớn này
là lục địa bằng phẳng nhất
về địa hình trên trái đất
và là nơi khô hạn thứ hai
chỉ sau Nam Cực.
Tên của nó xuất phát từ một cụm từ La-tinh
có nghĩa là “Vùng đất không
xác định ở phía Nam”.
Lục địa này rất giàu đá quý,
chẳng hạn như opal trắng.
Úc là một trong những quốc gia
đa văn hóa nhất trên thế giới
với hơn 270 sắc tộc khác nhau.
Hơn 1/4 dân số Úc được sinh ra ở nước ngoài.
Hầu hết người Úc đều
rất yêu thích các hoạt động ngoài trời.
Anh chị có thể thấy
nhiều người chơi lướt sóng,
chơi footy,
là tên của một môn bóng bầu dục kiểu Úc,
hoặc thưởng thức những
bữa tiệc nướng ngoài trời.
Tiệc nướng gắn liền
với văn hóa của người Úc.
Thông thường, khách mời sẽ mang theo
những món ăn để chia sẻ với nhau.
Cho nên, bữa ăn sẽ rất đa dạng
với nhiều món ăn từ các vùng miền
và quốc gia khác nhau.
Một món ăn đặc trưng khác
của Úc là Vegemite
được người ta tạo ra ở
Melbourne vào năm 1923.
Loại bơ phết màu nâu sẫm
này chủ yếu được làm từ men bia
và có hương vị umami độc đáo
là hương vị mà người ta
thường mô tả là giống vị thịt.
Người dân địa phương rất thích
phết một lớp mỏng lên bánh mì nướng
hoặc bánh quy giòn để tạo vị mặn đậm đà.
Nhiều người Úc cũng rất thích uống cà phê.
3/4 dân số uống một tách mỗi ngày
và 95% quán cà phê đều
thuộc quyền sở hữu cá nhân.
Cà phê ở đây thường được pha từ
những hạt cà phê nhập khẩu chất lượng cao
cùng với nghệ thuật tạo hình
để tạo ra một ly cà phê
vừa ngon vừa đẹp mắt.
Vào cuối thế kỷ 18,
hàng trăm bản Kinh Thánh
đã được Hạm đội Đầu tiên mang đến Úc.
Đến thế kỷ 19,
danh Đức Chúa Trời bắt đầu xuất hiện
trong nhiều bản Kinh Thánh bản địa
và được dịch theo nhiều dạng khác nhau,
chẳng hạn như Yehóa và Jehovah.
Thông điệp Kinh Thánh bắt đầu
động đến lòng người ta,
chẳng hạn như bé gái Kartanya, 11 tuổi,
đã viết như sau trong tiếng mẹ đẻ:
“Hãy luôn thờ phượng Đức Giê-hô-va.
Đức Giê-hô-va là
Đấng Tạo Hóa của chúng ta.
Đức Giê-hô-va giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi”.
Anh Arthur Willis đến từ Tây Úc
rất muốn giúp người khác
tìm hiểu về Đức Chúa Trời.
Năm 1931, lúc 19 tuổi,
anh bắt đầu làm tiên phong
và đi đến những nơi hẻo lánh
trên khắp đất nước.
Đến năm 1932, anh bắt đầu tìm kiếm
những người Úc bản địa.
Vào năm 1943, anh Arthur chuyển
đến sống ở Pingelly
và rao giảng cho một gia đình thổ dân Noongar
là anh James và chị Mabel.
Họ có 17 người con.
Các cuộc học hỏi Kinh Thánh
được điều khiển tại nhà của họ.
Và theo thời gian,
gia đình họ trở thành những
người công bố bản địa đầu tiên tại Úc.
Các cháu của anh chị này
hiện nằm trong số hơn
71.000 người công bố
đang rao giảng về Nước Trời
trên khắp đất nước.
Các công bố tìm kiếm những người
có lòng thành tại những bãi biển,
vùng nông thôn
hoặc trên đường phố.
Họ cũng cố gắng học những ngôn ngữ mới,
chẳng hạn như tiếng Hoa phổ thông
và hòa mình vào những nền văn hóa này.
Một trong những hội thánh rất sốt sắng
là hội thánh Carlton ở Melbourne.
Phòng Nước Trời của họ nằm ở
khu thương mại trung tâm của Melbourne.
là một nơi rất sôi động và đa văn hóa.
Hội thánh này gồm những anh chị
đến từ 21 quốc gia khác nhau.
Các anh em ở đây có một thông điệp
đặc biệt muốn gửi đến mọi người.
Và chúng tôi cũng muốn gửi
tình yêu thương đến tất cả các anh chị.
Đây là Kênh truyền thông JW
từ Trụ sở trung ương
của Nhân Chứng Giê-hô-va.