JW subtitle extractor

Kênh truyền thông JW—Tháng 10 năm 2026

Video Other languages Share text Share link Show times

Chào mừng anh chị
đến với Kênh truyền thông JW.
Nhiều người trong chúng ta
thường đi kiểm tra thị lực,
nhưng chúng ta có thường kiểm tra
thị lực về thiêng liêng của mình không?
Nếu chúng ta bị phân tâm,
thì làm thế nào chúng ta có thể
điều chỉnh thị lực thiêng liêng của mình?
Một số anh chị đã giữ được
sự tập trung về thiêng liêng
bằng cách tình nguyện làm việc
bán thời gian tại Bê-tên.
Vậy, một ngày của tình nguyện viên
bán thời gian sẽ như thế nào?
Và theo dòng lịch sử,
chúng ta sẽ được khám phá
về việc dịch Kinh Thánh của tổ chức.
Đây là Kênh truyền thông JW.
Thị lực của anh chị có tốt không?
Nếu anh chị đeo kính áp tròng,
hoặc kính như tôi
thì thị lực của anh chị không tốt cho lắm.
Tôi bị cận thị, tức là không nhìn được xa.
Khi tôi nhìn mọi vật,
ánh sáng sẽ hội tụ ở phía trước
võng mạc của tôi.
Thế nên, những vật ở xa
sẽ bị mờ.
Tôi không thể thấy rõ.
Có lẽ anh chị có vấn đề ngược lại,
đó là viễn thị.
Điều này xảy ra vì ánh sáng
hội tụ ở phía sau võng mạc
khiến anh chị không thấy rõ
những vật ở gần.
Một số người thì bị cận ở một mắt
và bị viễn ở mắt còn lại.
Dù là trường hợp nào đi nữa
thì nếu anh chị đeo kính đúng độ,
mắt anh chị sẽ nhìn thấy rõ hơn.
Cũng có những vấn đề khác
về mắt như mù lòa,
là điều mà chỉ có Nước Trời
mới có thể chữa lành.
Tuy nhiên, có một vấn đề về mắt
còn nghiêm trọng hơn là
những điều mà tôi vừa nói đến.
Chúa Giê-su nói đến điều này
trong Bài giảng trên núi.
Hãy cùng đọc những lời của ngài
nơi Ma-thi-ơ 6:22, 23:
“Mắt là đèn của thân thể”.
Hãy tạm dừng ở đây.
Ý của Chúa Giê-su là gì
khi nói “mắt là đèn của thân thể”?
Ngài đang dùng phép ẩn dụ.
Mắt được ví như ngọn đèn
trong nơi tối tăm,
giúp một người đi mà không bị vấp ngã.
Dù vậy, Chúa Giê-su cũng muốn nói đến
thị lực của một người theo nghĩa bóng,
tức là quan điểm của chúng ta
về những điều Đức Chúa Trời muốn mình làm.
Rồi sau đó, Chúa Giê-su nói về
hai tình huống đối lập có thể xảy ra.
Hãy cùng đọc tiếp:
“Vậy, nếu mắt anh em tập trung
vào một mục tiêu,
cả thân thể sẽ sáng.
Nhưng nếu mắt anh em đố kỵ,
cả thân thể sẽ tối tăm”.
Ở đây nói đến sự đối lập
giữa một mắt tập trung
và một mắt đố kỵ.
Một cái thì giúp đời sống tươi sáng.
Cái kia thì khiến đời tối tăm.
Những điều chúng ta chọn tập trung vào
sẽ ảnh hưởng tốt hoặc xấu đến mình.
Chúng ta cần giữ
cho những điều thiêng liêng
ở ngay trước mắt chúng ta.
Vì vậy, chủ đề của bài giảng này là:
Luôn tập trung vào
ý muốn của Đức Chúa Trời.
Vậy, ý muốn của ngài
đối với chúng ta là gì?
Nói một cách đơn giản
ngài muốn chúng ta tìm hiểu về ngài,
đến gần ngài, vâng lời ngài,
yêu thương và phụng sự ngài
với cả tấm lòng.
Chúa Giê-su nêu gương cho chúng ta.
Nơi Giăng 6:38 ngài nói
ngài đến trái đất
‘không phải để làm theo ý riêng
mà theo ý đấng phái ngài đến’.
Chúa Giê-su giữ mắt tập trung
vào một mục tiêu duy nhất:
đó là thánh chức.
Ngài dành thời gian và sức lực
cho Nước Trời.
Thay vì tập trung vào việc
theo đuổi danh tiếng,
địa vị xã hội hoặc
của cải vật chất trong thế gian này.
Tương tự, Chúa Giê-su dạy các môn đồ
giữ tập trung vào việc
phụng sự Đức Giê-hô-va.
Ngài bảo họ: “Chỉ những ai làm theo
ý muốn của Cha tôi ở trên trời
thì mới được vào Nước Đức Chúa Trời”.
Tất cả chúng ta cũng nên tập trung
vào việc làm theo ý muốn
của Đức Chúa Trời,
tìm kiếm Nước Trời trước hết
và sốt sắng rao giảng về Nước ấy.
Giữ mắt tập trung,
nghĩa là chúng ta giữ
một đời sống đơn giản.
Chúng ta không luôn nghĩ về
những điều mình muốn
hoặc cố để chạy theo mọi điều
mà thế gian này mời gọi.
Khi giữ mắt tập trung vào
ý muốn của Đức Chúa Trời
thì đời sống của chúng ta
sẽ tươi sáng.
Đời sống của chúng ta rất khác
với những người có mắt đố kỵ,
không tập trung vào điều thật sự quan trọng.
Họ theo đuổi lối sống ích kỷ.
Mắt họ bị phân tâm và đầy lòng tham.
Như Châm ngôn chương 17 nói:
‘Mắt họ nhìn bâng quơ
tận cùng đất’.
Suy nghĩ và ước muốn
của họ bị phân tán
hết chỗ này đến chỗ khác,
thay vì ở một chỗ.
Việc tập trung vào của cải vật chất
thay vì phụng sự Đức Giê-hô-va
khiến đời sống họ tối tăm.
Để hiểu minh họa của Chúa Giê-su,
hãy cùng xem bức tranh này.
Đây là một bức tranh nổi tiếng
của họa sĩ William Hill.
Bức tranh này được ra mắt
vào năm 1915.
Đây là bức tranh đánh lừa thị giác.
Anh chị có thể thấy đầu
và vai của hai người phụ nữ.
Một người trẻ hơn và
một người lớn hơn.
Anh chị có thấy họ không?
Người phụ nữ trẻ đang
ngoảnh mặt khỏi anh chị.
Đây là má bên trái của cô ấy,
tai trái,
mũi,
lông mi,
cằm
và dây ruy băng trên cổ.
Đây là tóc của của ấy,
và cái mũ đội đầu.
Còn đây là vai.
Giờ hãy thử tìm
người phụ nữ lớn tuổi hơn.
Bà ấy nhìn về phía trái của anh chị.
Đây là mũi,
mắt trái,
miệng,
cằm.
Và đây là tóc,
mũ đội đầu
và vai.
Anh chị không thể nhìn thấy
hai người phụ nữ cùng một lúc.
Anh chị phải tập trung vào một người,
rồi não sẽ nhận ra đường nét
của người ấy.
Bức tranh này liên kết thế nào
với điều mà chúng ta đang thảo luận?
Anh chị có quan điểm nào
về thế gian già cỗi này
và thế giới mới sắp đến?
Sa-tan muốn anh chị
xem thế gian của hắn
tràn đầy sức sống,
giàu của cải vật chất,
vô vàn cơ hội và tiềm năng.
Trên thực tế, thế gian
già cỗi của Sa-tan
giống như hình ảnh
của người phụ nữ lớn tuổi này.
Nó sẽ sớm bị Nước Đức Chúa Trời
hủy diệt hoàn toàn.
Ngược lại, chúng ta xem thế giới mới
giống như hình ảnh
của người phụ nữ trẻ tuổi.
Thế giới ấy vui tươi, nhộn nhịp
và trường tồn,
là nơi mà ước muốn của mọi loài sống
đều sẽ được thỏa mãn.
Chúng ta cần dùng sự thông sáng
và hiểu biết mà Đức Chúa Trời ban
để thấy sự khác biệt giữa
thế gian của Sa-tan
và thế giới mới của Đức Chúa Trời,
như Đức Giê-hô-va đã dạy chúng ta
qua lăng kính trong suốt
là Lời Đức Chúa Trời.
Chúng ta không thể tập trung
vào cả hai.
Một tín đồ không thể dâng cho
Đức Chúa Trời lòng sùng kính chuyên độc
đồng thời lại chạy theo
tinh thần của thế gian Sa-tan.
Sứ đồ Giăng nhìn thế gian này
theo quan điểm của Đức Giê-hô-va.
Chúng ta hãy cùng đọc xem ông nói gì
nơi 1 Giăng 2:15-17.
Ở đó, ông nói về hai điều
chúng ta không được yêu.
Khi tôi đọc câu này, anh chị hãy tự hỏi:
Trong hai điều này,
điều nào dễ làm hơn?
“Đừng yêu thế gian cũng như
những gì thuộc về thế gian.
Nếu ai yêu thế gian thì tình yêu thương
đối với Cha không ở trong người ấy;
vì tất cả những gì thuộc về thế gian
như sự ham muốn của xác thịt,
sự ham muốn của mắt
và sự phô trương của cải
đều bắt nguồn từ thế gian
chứ chẳng phải từ Cha.
Hơn nữa,
thế gian cùng ham muốn
của nó đang qua đi,
nhưng ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời
thì còn lại đời đời”.
Hai điều chúng ta không được yêu
là thế gian cũng như
“những gì thuộc về thế gian”.
Điều nào anh chị thấy dễ làm hơn?
Dễ để không yêu thế gian hơn,
phải vậy không?
Chúng ta mong chờ được thấy
thế gian Sa-tan
cùng với tôn giáo sai lầm,
hệ thống chính trị bại hoại
và giới thương mại tham lam
bị hủy diệt vĩnh viễn.
Chúng ta rất mong chờ ngày ấy.
Nhưng thế gian này bày ra
trước mắt chúng ta
vô số điều gây phân tâm.
Nhiều điều trong thế gian
trông có vẻ rất thu hút,
hấp dẫn và cám dỗ.
Trong mọi điều mà Sa-tan dùng
để đánh lừa nhân loại,
thì việc khơi dậy ham muốn của mắt
khi thấy sự hào nhoáng và xa hoa
là một trong những cạm bẫy
hữu hiệu nhất.
Sa-tan đã thành công lừa Ê-va
chỉ với một loại trái cây.
Chúng ta cần luôn tra xét lòng
để xem có gì trong thế gian
đang thu hút mình không.
Nếu tập trung hay ham muốn
những gì thuộc về thế gian,
thì sẽ rất khó để một tín đồ
tập trung vào điều quan trọng hơn,
là ý muốn của Đức Chúa Trời.
Thay vì thế,
chúng ta cần tập trung vào việc
phụng sự Đức Giê-hô-va
với cả tấm lòng.
Như việc kiểm tra mắt định kỳ
là điều quan trọng
thì điều khôn ngoan
là chúng ta cần thường xuyên
kiểm tra chính mình
để xem mình cần thay đổi những gì
để giữ cho đôi mắt thiêng liêng tinh tường.
Làm sao để kiểm tra đôi mắt thiêng liêng?
Tương tự với bảng đo thị lực,
Kinh Thánh cung cấp một bảng đo
giúp chúng ta tự đánh giá.
Bảng đo này gồm
danh sách các phẩm chất
được ghi nơi 2 Phi-e-rơ 1:5-7.
Hãy cùng đọc:
“Anh em hãy tha thiết dồn mọi nỗ lực
để thêm cho đức tin mình sự nhân đức,
thêm cho sự nhân đức sự hiểu biết,
thêm cho sự hiểu biết tính tự chủ,
thêm cho tính tự chủ sự chịu đựng,
thêm cho sự chịu đựng lòng sùng kính,
thêm cho lòng sùng kính tình huynh đệ,
thêm cho tình huynh đệ tình yêu thương”.
Chúng ta đang thể hiện mỗi phẩm chất này
tốt đến mức nào trong đời sống?
Hãy cùng xem từng phẩm chất một.
Đức tin.
Phẩm chất thiết yếu này là nền tảng
cho tất cả những phẩm chất còn lại.
Chúng ta cần luôn củng cố
đức tin của mình.
Khi có đức tin mạnh,
chúng ta sẽ tin mọi điều
mà Đức Giê-hô-va đã hứa
và với đôi mắt đức tin,
chúng ta sẽ thấy mọi lời hứa ấy
được thực hiện.
Nhân đức.
Nhân đức nghĩa là làm điều đúng
theo ý Đức Chúa Trời.
Phẩm chất này thúc đẩy chúng ta
tránh làm điều xấu
hay gây hại cho người khác.
Cũng như thôi thúc chúng ta
tìm những cách
làm điều lành cho người khác.
Hiểu biết.
Chúng ta cần phẩm chất này
để phân biệt điều đúng và điều sai,
đặc biệt là khi đương đầu với
những thử thách mới.
Qua việc đào sâu Kinh Thánh,
chúng ta biết ý muốn
Đức Chúa Trời dành cho mình
và làm sao để thể hiện sự khôn ngoan
trong mọi khía cạnh của đời sống.
Tự chủ.
Trong tiếng Hy Lạp, từ này có nghĩa đen
là “nắm chặt lấy chính mình”.
Phẩm chất này giúp chúng ta thấy cách
để sống phù hợp với tiêu chuẩn
của Đức Giê-hô-va
qua việc kiềm chế suy nghĩ,
lời nói và hành động của mình
để không phạm tội.
Chịu đựng.
Đây là sự can đảm và kiên định
nhờ nương cậy nơi
sức mạnh của Đức Giê-hô-va.
Nó giúp chúng ta không mất hy vọng
khi đương đầu với mọi thử thách.
Nhờ chịu đựng, chúng ta thấy
Đức Giê-hô-va đang giúp mình
kháng cự cám dỗ
và giữ trung thành khi bị ngược đãi.
Lòng sùng kính.
Khi có phẩm chất này,
chúng ta sẽ tôn kính
và thán phục cũng như trung thành
ủng hộ quyền tối thượng của ngài.
Nó thúc đẩy mình để ý cách
Đức Giê-hô-va đối xử với dân ngài
và sống theo cách làm đẹp lòng
Đức Giê-hô-va
vì chúng ta yêu thương ngài.
Tình huynh đệ.
Chúng ta cần phẩm chất này
nếu muốn bắt chước Đức Giê-hô-va.
Có tình huynh đệ,
chúng ta sẽ nhìn xa hơn
những sự bất toàn của anh em,
đối xử tử tế với họ như gia đình,
và luôn đặt lợi ích của họ
lên trên bản thân.
Tình yêu thương.
Chúng ta cần bắt chước Đức Giê-hô-va
không đối xử thiên vị với mọi người,
chứ không chỉ anh em đồng đạo.
Chúng ta làm thế bằng cách
giúp đỡ họ về thiêng liêng,
tận dụng mọi cơ hội để
chia sẻ với người khác
về chân lý trong Kinh Thánh.
Chúng ta đã đọc bảng đo
thị lực về thiêng liêng
và kết quả chẩn đoán
nằm trong hai câu tiếp theo:
“Vì nếu những điều ấy có
trong anh em và có dư tràn,
chúng sẽ giúp anh em tránh
trở nên không hoạt động
hoặc không kết quả trong những việc
liên quan đến sự hiểu biết chính xác
về Chúa Giê-su Ki-tô chúng ta.
Vì ai thiếu những điều ấy là người mù,
nhắm mắt trước ánh sáng”.
Có thị lực tốt về thiêng liêng
là điều rất quan trọng.
Nếu chúng ta làm theo những gì
Phi-e-rơ khuyến giục
và “tha thiết dồn mọi nỗ lực”
để có “dư tràn” tám phẩm chất ấy,
thì chúng ta sẽ không bao giờ
trở nên ngưng hoạt động
trong việc thờ phượng.
Trái lại, chúng ta sẽ hữu dụng
trong việc làm theo
ý muốn của Đức Chúa Trời.
Nhưng nếu không thể hiện
những phẩm chất ấy,
chúng ta sẽ mất đức tin
nơi Đức Giê-hô-va
và bị mù về thiêng liêng.
Chúng ta khiêm nhường thừa nhận
là mình cần thể hiện tốt hơn
những phẩm chất này.
Chúng ta cần cải thiện
thị lực về thiêng liêng
để tập trung vào điều đúng.
Chúng ta làm thế như thế nào?
Hãy cùng xem bốn gợi ý sau.
Thứ nhất,
học hỏi và suy ngẫm Lời Đức Chúa Trời.
Nếu anh chị có vấn đề với thị lực,
có lẽ bác sĩ sẽ kê thuốc nhỏ mắt
giúp làm ẩm và xoa dịu mắt.
Rồi dùng một miếng băng
để băng mắt lại.
Nhờ thế, thuốc có thể phát huy tác dụng.
Việc đọc Kinh Thánh mỗi ngày
giúp chúng ta giữ thiêng liêng của mình
được ẩm bằng nước chân lý
và được xoa dịu bằng Lời Đức Chúa Trời.
Suy ngẫm giúp chúng ta hấp thu
những gì mình đọc
và khắc ghi Lời Đức Chúa Trời vào lòng.
Điều này giúp chúng ta không quên
ý định của Đức Giê-hô-va,
những công việc tuyệt vời của ngài
cũng như hy vọng mà ngài ban.
Học giả William Barclay từng nói:
“Đối với một tín đồ chân chính,
việc học hỏi Lời Đức Chúa Trời
không phải là công việc nặng nhọc
nhưng là điều thích thú
vì người đó biết rằng
lòng mình sẽ tìm được
những điều bổ dưỡng mà
mình hằng mong ước”.
Thứ hai, áp dụng những điều mình học.
Những bài tập cho mắt
có thể giúp cải thiện những vấn đề về thị lực.
Về thiêng liêng, chúng ta cũng cần
áp dụng các nguyên tắc Kinh Thánh
để thấy lời khuyên của Đức Chúa Trời
có thật sự hữu ích hay không.
Chúng ta cũng thể hiện đức tin
qua việc sốt sắng rao giảng
trong thánh chức
và nói lên đức tin của mình
tại các buổi nhóm họp.
Thứ ba, làm theo sự hướng dẫn
của thần khí thánh.
Có một số vấn đề về thị lực
thì bác sĩ cần dùng tia lazer
để điều trị tình trạng bong võng mạc
hoặc những vấn đề khác bên trong mắt.
Theo nghĩa thiêng liêng,
thần khí thánh của Đức Chúa Trời
cũng giống như tia lazer.
Nếu để thần khí thánh hướng dẫn
cách chúng ta suy nghĩ và hành động
thì đức tin của chúng ta sẽ lớn mạnh
và mình sẽ đến gần với
Đức Giê-hô-va hơn.
Thứ tư, nhận sự giúp đỡ từ người khác.
Trong vài trường hợp,
một bác sĩ giỏi có thể
đề nghị chúng ta mổ mắt.
Tương tự, các trưởng lão giàu kinh nghiệm
có thể dùng Lời Đức Chúa Trời,
là điều sắt bén hơn
bất cứ con dao mổ nào,
để cho chúng ta lời khuyên
mạnh mẽ và thẳng thắn.
Nếu chấp nhận lời khuyên,
thị lực thiêng liêng của chúng ta
sẽ cải thiện.
Vậy chúng ta đã học được gì?
Nếu chúng ta giữ đôi mắt tập trung,
chúng ta sẽ nhận ra
ý định của Đức Chúa Trời là gì
và tiếp tục hình dung mình
trong thế giới mới.
Còn nếu mắt đố kỵ, thị lực thiêng liêng
của chúng ta sẽ mờ
và khiến thế giới mới
trở thành một câu chuyện cổ tích.
Như đã thảo luận trước đó,
mắt chúng ta không thể tập trung
vào hai điều cùng một lúc.
Đố kỵ với những điều trong
thế gian già cỗi này
sẽ làm lu mờ ý định của
Đức Chúa Trời dành cho mình.
Và theo thời gian,
chúng ta sẽ không còn
quan tâm đến ý định của ngài nữa.
Đó sẽ là một thảm kịch!
Điều quan trọng
là chúng ta luôn giữ mắt
tập trung vào ý định của Đức Chúa Trời
và tiếp tục dâng cho
Cha yêu thương trên trời
điều tốt nhất mình có
cho đến muôn đời.
Hãy xem cách một cặp vợ chồng
đã lấy lại sự tập trung
và tìm ra bí quyết
để có một đời sống ý nghĩa hơn.
Lúc khoảng hơn 20 tuổi,
chúng tôi đã mua một căn hộ
ở ngay trung tâm
thủ đô Vienna của Áo.
Và mỗi tháng, chúng tôi
đều phải trả góp.
Mà căn hộ đó đẹp lắm!
Ừ, rất đẹp.
Thích cực luôn.
Chúng tôi đều rất thích.
Thật nở mày nở mặt
khi sở hữu một căn hộ như vậy.
Lúc đó, tôi tập trung
kiếm thật nhiều tiền
vì nghĩ rằng điều đó
sẽ khiến Doris vui.
Chúng tôi bắt đầu bỏ bê
các buổi nhóm họp
và cũng không còn giữ
nề nếp thiêng liêng.
Điều đó ảnh hưởng đến hôn nhân
của chúng tôi.
Các trưởng lão rất nhân từ
khi đến thăm chiên chúng tôi.
Đúng là các anh rất nhân từ,
nhưng họ cũng thẳng thắn
nhắc tôi nhớ tôi là đầu của gia đình.
Trách nhiệm chính của tôi
là chăm lo cho nhu cầu
thiêng liêng của vợ mình,
và...
Chứ không chỉ tài chính thôi,
phải không anh?
Đúng rồi em.
Những lời các anh
đã động đến lòng tôi.
Tôi muốn trở thành một người chồng tốt.
Tôi muốn vợ mình hạnh phúc,
và chắc chắn cô ấy sẽ hạnh phúc
khi đời sống chúng tôi
xoay quanh Đức Giê-hô-va.
Chúng tôi trò chuyện với nhau nhiều hơn
và bắt đầu lại thói quen
cùng nhau cầu nguyện mỗi ngày.
Cuối cùng, chúng tôi nhận ra
là mình không thể tiếp tục
ở trong căn hộ đắt tiền này.
Chúng tôi đã đề cập
đến điều đó trong lời cầu nguyện.
Chúng tôi nói với ngài:
“Đức Giê-hô-va ơi, chúng con
rất muốn bán đi căn hộ này.
Chúng con không muốn bị
gánh nặng tài chính nữa”.
Điều chúng tôi mong đã thành sự thật.
Chúng tôi đã bán được căn hộ.
Và thế là hết nợ luôn.
Đại hội năm 2014
đã tiếp thêm động lực cho chúng tôi.
Chúng tôi được thúc đẩy
để đặt Nước Trời lên hàng đầu
và để Đức Giê-hô-va lo phần còn lại.
Đó là lần đầu tiên
chúng tôi áp dụng Ma-thi-ơ 6:33
cho chính mình
và thật sự cảm nghiệm được
sự chăm sóc của Đức Giê-hô-va.
Ngay lập tức, chúng tôi chia sẻ
với ngài ước muốn của mình.
Đó là lần đầu tiên
tôi muốn làm điều gì đó cho Nước Trời.
Chúng tôi đã làm liền.
Đúng vậy.
Đại hội diễn ra vào mùa hè
và ngay đầu mùa thu,
chúng tôi bắt đầu làm
tiên phong phụ trợ thường xuyên.
Trong ngành xây dựng thì thường
hiếm có ai làm việc bán thời gian.
Để làm công việc tiên phong phụ trợ
thì tôi phải giảm giờ làm.
Tôi thật sự phải thử Đức Giê-hô-va.
Bởi vì khi ngồi tính phí tổn, tôi nghĩ:
“Woa, mình phải sống rất tiết kiệm”.
Tôi đã cầu nguyện rất nhiều về điều đó.
Tôi đã tha thiết cầu xin
Đức Giê-hô-va giúp mình
có thêm lòng can đảm
để có thể nói chuyện với sếp
và xin giảm số giờ làm việc.
Và cũng xin ngài giúp tôi
có thêm lòng tin cậy
là ngài sẽ chăm lo cho mình.
Hai vợ chồng chúng tôi
rất thích công việc tiên phong phụ trợ,
và khi sắp đến năm công tác mới,
chúng tôi liền nghĩ:
“Hay là mình làm tiên phong đều đều nhỉ?”.
Thế là hai vợ chồng lên kế hoạch.
Và thế là, chúng tôi bắt đầu làm
tiên phong đều đều.
Đó là một quyết định đúng đắn.
Mọi chuyện cứ thế dần tốt lên.
Đúng đúng, ngày càng tốt hơn.
Rồi đến một thời điểm,
chúng tôi quyết định
đơn giản hóa đời sống thêm nữa.
Chúng tôi chuyển đến một căn hộ nhỏ xíu,
nhưng có đầy đủ mọi thứ chúng tôi cần.
Chúng tôi thấy rất thoải mái.
Có một bài Tháp Canh đã thúc đẩy
chúng tôi làm thêm một bước nữa.
Đó là bài “Cùng làm việc
với Đức Giê-hô-va mỗi ngày”.
Ở gần cuối bài thì có một câu hỏi:
“Anh chị có muốn nhận thêm
sự huấn luyện
để được trang bị kỹ càng hơn
cho công việc phụng sự không?
Nếu có, có lẽ anh chị
hội đủ điều kiện tham dự
Trường dành cho người
rao truyền Nước Trời”.
Tôi thấy bài đó
như thể dành cho chúng tôi.
Chúng tôi không có lý do gì
để không nộp đơn.
Và...
Chúng tôi đã được mời!
Chúng tôi thật sự đã được mời.
Chúng tôi rất vui.
Tôi đã quyết định xin nghỉ hai tháng
để tham dự Trường rao truyền Nước Trời,
nhưng họ không cho tôi nghỉ.
Thế là tôi nghỉ việc luôn.
Nhưng tôi không hề hối tiếc chút nào.
Nếu có lần thứ hai,
tôi vẫn sẽ làm thế.
Trải nghiệm ở Trường rao truyền...
là bằng chứng về tình yêu thương
của Đức Giê-hô-va.
Việc biết Đức Giê-hô-va
thấy tiềm năng của chúng tôi
làm chúng tôi
rất ấm lòng.
Chúng tôi được bổ nhiệm
đến một hội thánh rất dễ thương.
Và tôi rất biết ơn khi được
cùng làm tiên phong với vợ.
Đó là một cuộc sống tuyệt vời nhất.
Đức Giê-hô-va đã luôn đối xử
với chúng tôi một cách yêu thương
và chăm lo cho các nhu cầu
của chúng tôi.
Đúng là chúng tôi có ít của cải hơn
nhưng cũng ít gánh nặng hơn
vì được ngài chăm sóc.
Chúng tôi không hối tiếc bất cứ điều gì.
Có chứ.
Có mà! Là gì?
Là không làm nhiều
cho Đức Giê-hô-va sớm hơn.
Đúng vậy!
Anh chị ấy đã chọn làm theo
sự hướng dẫn đầy yêu thương
của Đức Giê-hô-va
và đơn giản hóa đời sống.
Họ đã có một đời sống hạnh phúc
và ý nghĩa hơn so với
những gì họ tưởng tượng.
Anh chị có lo khi nghĩ đến việc
đơn giản hóa đời sống không?
Đừng quá lo!
Chúng ta sẽ được thêm sức
khi đọc sách Xa-cha-ri.
Lâu rồi em không học kỹ sách Xa-cha-ri.
Sách này sống động quá anh ha.
Anh thì mong chờ được đào sâu
sách này cả tuần nay rồi.
Em sẵn sàng chưa?
Sẵn sàng.
Em cứ nghĩ về những điều
mình đã học tuần trước.
Dân Y-sơ-ra-ên phải chịu
biết bao nhiêu áp lực,
từ sự chống đối của kẻ thù
và chính quyền đến sự nản lòng.
Trên hết, họ phải xây lại đền thờ,
tái thiết Giê-ru-sa-lem
và chăm sóc gia đình nữa.
Chắc là họ mệt mỏi lắm.
Đời sống bây giờ cũng bị áp lực y như vậy.
Chuẩn luôn.
Theo quan điểm của con người,
họ rất dễ bị tấn công
vì không có quân đội
cũng không có thế lực chống lưng.
Họ chỉ là một nhóm nhỏ
đối mặt với một thử thách như núi.
Thế nên, Đức Giê-hô-va sai Ha-gai
và Xa-cha-ri đến để khích lệ họ.
Chính xác.
Ha-gai chia sẻ thông điệp
thẳng thắn về điều họ cần làm,
và rồi Xa-cha-ri đến
chia sẻ với họ thông điệp khích lệ
về thiêng liêng để giúp họ tiếp tục chịu đựng.
Em thấy sách Xa-cha-ri
có rất nhiều điểm để đào sâu.
Hay là mình chia nhỏ thành từng phần?
Ý hay đó em!
Video giới thiệu về sách này
làm nổi bật các điểm chính,
đặc biệt là các lời tiên tri về Đấng Mê-si.
Em cũng rất thích dùng “Phần sơ lược
nội dung” trong Bản Dịch Thế Giới Mới.
Em đã nghiên cứu “Khải tượng 5”
nói về “Chân đèn và hai cây ô-liu”.
Khải tượng này rất thú vị.
Thế em tìm được gì?
Khi đang nghiên cứu em tìm thấy
bài Tháp Canh tháng 3 năm 2022.
Bài đó có tựa:
“Anh chị có thấy điều Xa-cha-ri thấy không?”
Những thông tin
và hình ảnh trong đó rất hữu ích.
Hay quá ta.
Em tìm bằng cách nào thế?
Em dùng sách Cẩm Nang Tra Cứu
và tra từng câu.
Đó cũng là một cách hay á.
Bài này giải thích là:
“Dầu từ hai cây ô-liu này
tượng trưng cho thần khí thánh
mạnh mẽ của Đức Giê-hô-va,
một nguồn vô tận”.
Hẳn hình ảnh này rất có ý nghĩa
với người Do Thái.
Lúc đó, họ thoái chí và nản lòng,
nhưng bây giờ họ được trấn an
là Đức Giê-hô-va sẽ
không bao giờ ngừng hỗ trợ họ.
Và rồi Đức Giê-hô-va
còn làm nhiều hơn thế nữa.
Trong câu 6 và 7, ngài phán:
“‘Chẳng bởi quân lực,
chẳng bởi quyền lực,
nhưng bởi thần khí ta’,
Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.
Này núi hùng vĩ kia, ngươi là chi?
Trước mặt Xô-rô-ba-bên,
ngươi sẽ trở nên đất bằng”.
Thật là những lời sống động!
Dù tất cả những sự chống đối
mà người Do Thái đối mặt giống như núi,
nhưng Xa-cha-ri miêu tả là
nó sẽ giống như đất bằng.
Ngay cả chính quyền Ba Tư
lẫn các dân xung quanh
cũng không thể nào làm gì để có thể
ngăn cản được công việc đó.
Dân Do Thái không cần một đội quân
vì họ đã có Đức Giê-hô-va.
Có lẽ họ đã hình dung một ngọn núi
khổng lồ bị san bằng ngay trước mắt họ.
Mình thấy rõ một điều là
thành công của dân Do Thái
không phụ thuộc
vào hoàn cảnh hay là khả năng,
mà phụ thuộc
vào thần khí của Đức Giê-hô-va.
Thật vậy.
Thông điệp này đã thêm sức cho họ.
Dù phải đối mặt với nhiều khó khăn,
dân Do Thái đã tin cậy Đức Giê-hô-va
và bắt tay vào công việc.
Chỉ hơn bốn năm sau,
đền thờ đã được hoàn tất.
Họ thật sự đã thấy quyền năng của thần khí.
Lệnh cấm bất ngờ được gỡ bỏ,
các dân xung quanh còn được lệnh là phải
cung cấp vật liệu để xây dựng lại đền thờ.
Con người không thể làm được.
Chỉ có thể là nhờ
thần khí của Đức Giê-hô-va thôi.
Ngài đã san bằng ngọn núi.
Vậy điều này
cho mình biết gì về Đức GIê-hô-va?
Những khải tượng
trong sách Xa-cha-ri trấn an em rằng
thần khí của ngài có thể
làm những điều dường như không thể.
Đức Giê-hô-va biết là đôi khi chúng ta
cảm thấy giống như dân Do Thái:
mệt mỏi, nản lòng và sợ hãi.
Thế nên, ngài muốn chúng ta
hình dung quyền năng của ngài.
Lời tiên tri của Xa-cha-ri
giúp chúng ta làm thế.
Em muốn nhớ điều này
khi đọc sách Xa-cha-ri.
Đó là hình dung những điều
đang diễn ra trong lời tường thuật.
Chính xác.
Điều này rất hợp với tựa
bài Tháp Canh mà em tìm được:
“Anh chị có thấy điều Xa-cha-ri thấy không?”
Em nghĩ mình có thể áp dụng thế nào?
Nói thật là đôi khi em rất mệt.
Ngoài các hoạt động thiêng liêng,
mình có quá nhiều việc phải làm:
các trách nhiệm gia đình,
kiếm sống, chăm sóc sức khỏe,
còn chưa nói đến những áp lực
không ngừng từ thế gian của Sa-tan.
Những điều này khiến em cảm thấy quá sức,
nên đôi khi em chỉ muốn
tham dự các buổi nhóm họp trên Zoom.
Anh cũng vậy.
Nhưng việc hình dung khải tượng ấy
giúp em tiếp tục chịu đựng.
Hình ảnh ấy nhắc em nhớ rằng
ngài sẽ ban cho em sức mạnh cần thiết,
cả về thể chất lẫn tinh thần.
Anh đồng ý.
Khi cảm thấy mình bắt đầu chậm lại,
anh nỗ lực cầu xin thần khí thánh
rồi hành động phù hợp với lời cầu nguyện.
Đôi khi chỉ cần là mình có mặt
ở buổi nhóm họp hay nhóm rao giảng,
dù là mình không muốn,
anh tin chắc là ngài sẽ
ban cho mình sức lực cần thiết.
Và em cũng muốn
noi theo gương Đức Giê-hô-va
qua việc dùng sức lực mình có
để khích lệ người khác,
đặc biệt là khi họ nản lòng hay sợ hãi.
Em muốn trấn an họ rằng
Đức Giê-hô-va rất quan tâm đến họ
và ngài muốn ban cho họ sức mạnh.
Đúng là rất quan trọng.
Mình cũng có thể
áp dụng bài học này cho tương lai,
khi phải đối mặt
với sự ngược đãi hay nỗi sợ.
Em thích điều anh nói khi nãy:
thành công không phụ thuộc
vào khả năng hay hoàn cảnh của mình
mà phụ thuộc vào thần khí của Đức Giê-hô-va.
Anh rất thích
cách vợ chồng mình đào sâu sách này.
Đó là mình chia nhỏ từng phần,
dùng Cẩm Nang Tra Cứu
và hình dung các lời tường thuật.
Những công cụ này thật sự
giúp Lời Đức Chúa Trời trở nên sống động.
Mình nghiên cứu thêm một chút
về hai cây gậy được không anh?
Được chứ em.
Anh cũng rất thích đào sâu
các lời tiên tri về Đấng Mê-si
và xem chúng liên kết thế nào
với chủ đề của Kinh Thánh.
Chẳng hạn như hành động của Xa-cha-ri
giúp mình nhận diện
Chúa Giê-su là Đấng Mê-si như thế nào.
Cũng có nhiều khải tượng khác nữa.
Sách Xa-cha-ri
có rất nhiều báu vật để đào.
Vợ chồng mình tha hồ thảo luận cho các
Buổi thờ phượng gia đình kế tiếp em ha.
Quả là một bài học hay và thực tế!
Thành công không phụ thuộc
vào hoàn cảnh
hay khả năng của bản thân.
Nếu chúng ta vâng lời,
Đức Giê-hô-va có thể dùng thần khí
để ban phước cho chúng ta.
Một số anh chị đã tập trung
phụng sự Đức Giê-hô-va
bằng cách tình nguyện
đến Bê-tên làm việc.
Hãy cùng xem video hào hứng sau.
Một ngày của người đến Bê-tên làm việc.
Xin chào, tôi tên là Hye-in.
Hiện tôi đang đến làm việc
tại chi nhánh Hàn Quốc.
Tôi không đến làm việc tại Bê-tên thường xuyên
vì tôi không có lịch cố định.
Tôi chỉ đến khi nào ban cần tôi giúp.
Từ nhà tôi đến Bê-tên
thường sẽ mất khoảng 45 phút đến một tiếng.
Nhưng cũng có thể lâu hơn,
tùy thuộc vào tình trạng giao thông.
Nhưng may là, tôi cũng thích lái xe,
nên tôi không cảm thấy mệt
khi đi quãng đường dài như thế.
Một ngày mới ở Bê-tên
thường bắt đầu với
chương trình thờ phượng buổi sáng.
Có một bài giảng gần đây
dựa trên Gia-cơ 1:2-4
khiến tôi cảm thấy ấn tượng.
Bài giảng này giúp chúng ta
xem thử thách và khó khăn
như một người dạy dỗ giúp mình trưởng thành.
Nhưng khi phải đối mặt với thử thách,
thật chẳng dễ dàng để có thể tự hỏi:
“Tôi có thể học được gì từ thử thách này?”.
Bài giảng đã nhắc nhở rằng
nếu chúng ta tiếp tục học hỏi cá nhân,
đọc Kinh Thánh, cầu nguyện và suy ngẫm
thì cuối cùng, chúng ta có thể vượt qua thử thách
với nụ cười trên môi.
Đúng là những buổi thờ phượng này
khiến tôi rất cảm động.
Tôi luôn rút ra được bài học cho mình.
Tôi làm việc trong Ban Chuyên chở.
Chúng tôi chủ yếu giúp các anh chị
phụng sự trọn thời gian
trong công tác đặc biệt ở nước ngoài,
di chuyển từ sân bay đến Bê-tên.
Tôi luôn tự nhủ là
những gì mà tôi đang làm ở Bê-tên
thì mục tiêu chính
là để giúp cho công việc thánh chức
ngoài cánh đồng.
Mỗi khi được gặp các anh chị
phụng sự trọn thời gian
trong công tác đặc biệt
đến thăm Bê-tên,
các anh chị ấy luôn bày tỏ
lòng biết ơn với chúng tôi.
Nên tôi nhận ra rằng:
“À, hóa ra là những việc mình làm
đã giúp ích cho các anh chị ấy”.
Tôi thấy thật sự thỏa nguyện.
Trên đường đi,
tôi và các anh chị nói chuyện về đủ điều.
Đến nơi thì đã một tiếng rưỡi
đến hai tiếng rồi.
Dù chỉ mới gặp nhau thôi,
nhưng cảm giác giống như gặp lại bạn cũ vậy.
Chúng tôi có thể thoải mái chia sẻ với nhau
cách Đức Giê-hô-va giúp đỡ mình thế nào.
Rồi, ngài thêm sức ra sao
để mình tiếp tục chịu đựng.
Những khoảnh khắc đó
làm cho công việc của tôi trở nên ý nghĩa hơn.
Lúc đầu, tôi cũng chẳng hào hứng mấy
với công việc này ở Bê-tên đâu,
nên tôi cũng do dự một chút.
Nhưng có một hôm,
một người bạn thân nói với tôi là:
“Khi mình phụng sự Đức Giê-hô-va,
đừng có chọn tới chọn lui
là mình sẽ làm công việc nào”.
Sau khi nghĩ về điều đó,
tôi thấy bạn ấy nói đúng.
Nên tôi đã quyết định đặt mình
trong tay Đức Giê-hô-va
và cứ nộp đơn thôi.
Đó là lý do tôi ở đây
và giờ tôi vẫn đang vui mừng phụng sự tại Bê-tên.
Đúng là
để sắp xếp công việc ngoài đời thật không dễ!
Tôi đã từng rất lo lắng
không biết mình có thể trang trải đời sống không.
Nhưng rồi, sau khi bắt đầu
làm việc tại Bê-tên
thì tôi đã không còn lo lắng gì nữa.
Cuối cùng, mọi việc
đều đã được giải quyết.
Trong một thời gian dài,
ngoài công việc tại Bê-tên
và công việc ngoài đời,
tôi cũng cần chăm sóc
người thân trong gia đình.
Thế nên, để duy trì nề nếp thiêng liêng,
tôi thường chọn một ngày
để học hỏi cá nhân.
Các hoạt động thiêng liêng
giống như mặt nạ dưỡng khí vậy.
Mỗi khi tôi cảm thấy mệt mỏi
về cả đầu óc lẫn tinh thần,
những hoạt động thiêng liêng ấy
giúp tôi lấy lại sức
để có thể tiếp tục phụng sự tại Bê-tên
và rao giảng với lòng sốt sắng.
Thế nên, dù chuyện gì xảy ra,
tôi luôn dành thời gian
để tham gia các hoạt động thiêng liêng
quan trọng này.
“Một ngày [trong nhà Đức Giê-hô-va]
quý hơn một ngàn ngày ở nơi khác!”.
Đó là câu tôi luôn ngẫm nghĩ đến
mỗi khi làm việc tình nguyện tại Bê-tên.
Dù trong tương lai
được nhận nhiệm vụ nào đi nữa,
tôi muốn phụng sự Đức Giê-hô-va
với niềm hạnh phúc,
vui mừng và lòng biết ơn.
Việc tình nguyện đến Bê-tên làm việc
đòi hỏi sự tập trung và sức lực.
Chị Hye-in đã làm gì để giữ thăng bằng
và không bị đuối sức?
Chị luôn dành thời gian
để nạp năng lượng
qua việc học hỏi cá nhân
một cách kỹ lưỡng.
Việc học Lời Đức Giê-hô-va
có thể làm xoa dịu
và giúp đôi mắt thiêng liêng của mình
hướng về tương lai với lòng tin chắc.
Hãy xem điều này
trong chương trình
Thờ phượng buổi sáng sau.
Chúng ta muốn thảo luận về chủ đề:
“Củng cố lòng tin cậy
nơi tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va”.
Tại sao chúng ta cần làm thế?
Có thể vì những gì chúng ta
đã trải qua trong quá khứ,
cách chúng ta được nuôi dạy,
hay những sai lầm mà từng phạm phải
hoặc trải nghiệm nào đó
đôi khi có thể khiến chúng ta nghi ngờ
không biết Đức Giê-hô-va
có yêu thương mình hay không.
Đó cũng có thể là hoàn cảnh hiện tại
mà chúng ta phải đối mặt.
Chẳng hạn như những điều
khiến chúng ta lo lắng.
Có thể là những trách nhiệm gia đình,
có quá nhiều việc phải làm,
vấn đề sức khỏe,
hay những mối quan tâm khác,
là những điều khiến mình thấy rõ
mình cần sự giúp đỡ yêu thương
của Đức Giê-hô-va.
Và dĩ nhiên, chúng ta biết
trong tương lai
mình sẽ phải đối mặt
với thử thách về đức tin
và chúng ta thắc mắc
không biết liệu mình có thể chịu đựng
và giữ trung thành hay không.
Vậy, bất kể là quá khứ,
hiện tại hay tương lai,
chúng ta cần củng cố lòng tin cậy
nơi tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va.
Một điều có thể giúp chúng ta làm thế
là xem xét điều Đa-ni-ên viết
nơi Đa-ni-ên 9:4.
Câu Kinh Thánh này được trích một phần
trong câu tra xem của chúng ta.
Vậy hãy mở đến Đa-ni-ên 9:4.
Đa-ni-ên nói:
“Tôi cầu nguyện với Giê-hô-va
Đức Chúa Trời mình và xưng tội rằng:
‘Ôi Giê-hô-va Đức Chúa Trời,
đấng vĩ đại và đáng kính sợ,
đấng luôn giữ giao ước và thể hiện
tình yêu thương thành tín
với những ai yêu thương ngài
và vâng giữ điều răn ngài’”.
Đây là một phần
lời cầu nguyện của Đa-ni-ên.
Trong đó ông đề cập đến
tình yêu thương thành tín của Đức Giê-hô-va,
việc ngài giữ giao ước hay lời hứa,
và Đức Giê-hô-va làm thế
với những người yêu thương ngài
và vâng giữ điều răn của ngài.
Việc xem xét lời cầu nguyện này
cùng bối cảnh
có thể giúp chúng ta tin chắc
Đức Giê-hô-va sẽ thể hiện
tình yêu thương thành tín với chúng ta.
Đầu tiên, tại sao Đa-ni-ên
lại dâng lời cầu nguyện này?
Hãy xem Đa-ni-ên 9:2:
“Vào năm đầu tiên của triều đại vua ấy,
tôi, Đa-ni-ên, đã nghiên cứu các sách
và đã hiểu số năm được nói đến
trong lời Đức Giê-hô-va phán
với nhà tiên tri Giê-rê-mi
về thời kỳ chấm dứt cảnh
hoang tàn của Giê-ru-sa-lem,
tức là 70 năm”.
Vậy khi nào sự kiện này xảy ra?
Đó là năm 539 TCN.
Lúc này, Giê-ru-sa-lem đã ở trong
cảnh hoang tàn khoảng 68 năm
và Đa-ni-ên đã nghiên cứu “các sách”.
Như phần chú thích cho chúng ta biết
là “các sách thánh”.
Vậy, ngoài các sách
của nhà tiên tri Giê-rê-mi
rất có thể ông cũng đọc
các sách khác của Môi-se,
Ê-sai, Ê-xê-chi-ên, A-mốt và Ô-sê.
Hẳn Đa-ni-ên đã đọc Giê-rê-mi 29:10
và chúng ta hãy xem
câu Kinh Thánh ấy nói gì.
Câu này nói:
“Đức Giê-hô-va phán thế này:
‘Mãn 70 năm ở Ba-by-lôn,
ta sẽ nhớ đến các con
và thực hiện lời hứa
bằng cách đem các con về quê hương’”.
Đa-ni-ên có thể liên kết
những gì đang xảy ra
với lời tiên tri của Kinh Thánh.
Và ông biết được rằng
Si-ru, lúc đó đang cai trị,
là người mà Kinh Thánh báo trước
sẽ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên.
Có lẽ ông không biết mọi chi tiết
nhưng ông biết rằng
những sự kiện này đã sắp gần rồi.
Điều đó thúc đẩy ông
dâng lời cầu nguyện này
và chú tâm vào tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va.
Lời cầu nguyện của Đa-ni-ên
được ghi lại từ câu số 4 đến câu số 19.
Và qua từ ngữ cũng như nội dung
của lời cầu nguyện này cho thấy
những lời của Giê-rê-mi
vẫn còn sống động trong lòng và trí ông.
Thực tế, một tài liệu tham khảo nói:
“Lời cầu nguyện này của Đa-ni-ên
không chỉ dựa trên 1 hoặc 2
trang của sách Giê-rê-mi
nhưng dựa trên toàn bộ sách ấy”.
Lời cầu nguyện của Đa-ni-ên cho thấy
dân sự cần tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va biết dường nào.
Ông chỉ ra sự tương phản
giữa lòng trắc ẩn và
sự trung tín của Đức Giê-hô-va
với việc dân Y-sơ-ra-ên bác bỏ lời ngài
và sự bất trung của họ.
Đa-ni-ên nhấn mạnh rằng
tất cả những gì họ trải qua
chính là những gì ngài đã báo trước.
Hãy đọc câu số 13.
Câu này nói:
“Mọi tai họa ấy đã giáng trên chúng con
đúng như những gì được viết
trong Luật pháp Môi-se”.
Đa-ni-ên biết những lời tiên tri này
không chỉ báo trước về hậu quả
mà dân Y-sơ-ra-ên phải gánh
vì tội của họ,
nhưng cũng hứa là dân Y-sơ-ra-ên
sẽ được hồi hương.
Các sách Lê-vi, Phục truyền luật lệ,
Ê-sai, Giê-rê-mi
cũng chứa đựng những lời hứa cho thấy rằng
nếu dân Y-sơ-ra-ên ăn năn
thì Đức Giê-hô-va sẽ cho họ hồi hương.
Hãy để ý phần kết
của lời cầu nguyện này nơi câu 19:
“Ôi Đức Giê-hô-va, xin hãy lắng nghe.
Ôi Đức Giê-hô-va, xin hãy tha thứ.
Ôi Đức Giê-hô-va, xin hãy để ý
và ra tay hành động!
Vì danh ngài, xin đừng trì hoãn,
ôi Đức Chúa Trời của con,
bởi thành và dân ngài
đều mang danh ngài”.
Vậy ông đã nài xin
dựa trên danh của Đức Giê-hô-va.
Điểm đáng chú ý ở đây
là trong sách Đa-ni-ên
danh Đức Giê-hô-va xuất hiện 19 lần.
18 lần trong số đó là trong chương này,
14 lần trong số đó thì nằm trong
lời cầu nguyện này của Đa-ni-ên.
Tại sao Đa-ni-ên lại cầu nguyện
và nài xin dựa trên danh Đức Giê-hô-va?
Vì Đa-ni-ên biết rằng
nếu Đức Giê-hô-va không hành động
thì điều đó sẽ ảnh hưởng
đến danh tiếng của ngài.
Ngài đã hứa giải cứu dân Y-sơ-ra-ên
và nếu không giữ lời hứa
thì điều đó sẽ sỉ nhục danh ngài.
Đa-ni-ên biết rằng
để hiểu Đức Giê-hô-va là ai
và danh ngài có nghĩa gì,
ông cần nhìn nhận rằng
Đức Giê-hô-va là
Đức Chúa Trời yêu thương thành tín.
Việc Đức Giê-hô-va hành động
để giúp dân ngài
liên quan đến vấn đề quan trọng hơn,
đó là biện minh cho danh của ngài.
Vậy chúng ta rút ra bài học nào?
Lời cầu nguyện này có thể củng cố
lòng tin cậy của chúng ta như thế nào
nơi tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va?
Bài học thứ nhất là
Đức Giê-hô-va không bao giờ
bỏ mặc dân ngài.
Hậu quả mà dân Y-sơ-ra-ên phải chịu
chính là điều Đức Giê-hô-va đã báo trước.
Nhưng họ có thể chắc chắn rằng
nếu họ ăn năn
thì tất cả những điều tốt đẹp
Đức Giê-hô-va hứa
cũng sẽ trở thành hiện thực,
và đó chính là điều đã xảy ra.
Điều này thật khích lệ.
Dù đôi khi có thể phạm sai lầm
nhưng chúng ta có thể tin chắc rằng
nếu thay đổi đường lối
thì Đức Giê-hô-va sẽ ở cùng chúng ta.
Như đã ở cùng Đa-ni-ên và dân Y-sơ-ra-ên,
ngài sẽ luôn ở cùng chúng ta
và không bao giờ bỏ rơi chúng ta.
Bài học thứ hai là
việc học về các lời tiên tri
trong Kinh Thánh
có thể củng cố lòng tin cậy của chúng ta
nơi tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va.
Điều đó đúng với Đa-ni-ên.
Nhờ học hỏi mà ông tin chắc
Đức Giê-hô-va sẽ hành động
và chúng ta cũng sẽ
nhận được lợi ích đó nếu làm thế.
Thực tế, bài “Học từ lời tiên tri
trong Kinh Thánh”
trong Tháp Canh tháng 8 năm 2023 nói:
“Khi thấy cách một số lời tiên tri
trong Kinh Thánh đã được ứng nghiệm,
chúng ta sẽ có lòng tin cậy
không lay chuyển nơi Đức Giê-hô-va
và cách ngài đang hướng dẫn chúng ta.
Ngoài ra,
lời tiên tri trong Kinh Thánh
giúp chúng ta giữ vững hy vọng về tương lai,
bất kể những thử thách
mình gặp hiện nay”.
Bài học thứ ba là
tình yêu thương thành tín
liên quan chặt chẽ
với danh Đức Giê-hô-va
và việc ngài là ai.
Đa-ni-ên tin chắc điều đó
và chúng ta cũng vậy.
Việc Đức Giê-hô-va thể hiện
tình yêu thương với chúng ta
là một phần bản chất của ngài.
Đức Giê-hô-va sẽ ra tay hành động
vì danh của ngài
và điều đó có thể giúp chúng ta
hoàn toàn tin chắc rằng
ngài sẽ giữ lời hứa chăm sóc chúng ta.
Bài học thứ tư là
Đức Giê-hô-va tiết lộ thông tin
vào đúng thời điểm.
Đa-ni-ên có thể liên kết
những biến cố hiện tại
với lời tiên tri của Kinh Thánh.
Đức Giê-hô-va đã
cung cấp thông tin mà ông cần
và ngài làm thế vào đúng thời điểm.
Đức Giê-hô-va cũng đang làm điều tương tự
cho dân ngài ngày nay.
Chúng ta biết sự điều chỉnh
về lời tiên tri trong Kinh Thánh
mà mình nhận được,
bao gồm những gì sẽ xảy ra
trong hoạn nạn lớn,
là bằng chứng cho thấy
Đức Giê-hô-va đang hướng dẫn
chúng ta ngày nay.
Nên việc suy ngẫm
về lời cầu nguyện của Đa-ni-ên
có thể giúp củng cố lòng tin cậy
nơi tình yêu thương thành tín
của Đức Giê-hô-va.
Dù điều gì xảy ra với mình
trong quá khứ,
hiện tại hay tương lai,
chúng ta tin chắc
ngài sẽ luôn thể hiện
tình yêu thương thành tín với chúng ta.
Chúng ta học được nhiều điều
chỉ từ vài câu Kinh Thánh.
Tôi rất thích điểm này:
Việc học về các lời hứa
của Đức Giê-hô-va
giúp chúng ta có cái nhìn
tích cực về tương lai.
Trong tương lai sắp tới,
chúng ta sẽ chào đón
hàng triệu người sống lại.
Anh chị có đang mong mỏi
được gặp và ôm chầm lấy
một người mà anh chị yêu mến không?
Hãy nghĩ đến người ấy
khi anh chị xem video âm nhạc
tháng này, có tựa:
Sẽ có sự sống lại.
Bạn hỡi, 
dù rất buồn đau,
phút giây biệt ly
cho ai ta yêu thương.
Để cảm xúc chẳng đè nén vào tim,
cứ khóc lên
cho lòng vơi đi bao đớn đau.
Ngày Cha nay sắp đến gần,
ngày ta sẽ khóc trong vui mừng.
Ai trong mồ khi nghe Giê-su gọi
sẽ thức dậy.
Bằng đôi mắt đức tin,
nhìn tương lai với hy vọng.
Chờ mong cho khoảnh khắc
bạn thấy thân nhân 
được sống lại
trong địa đàng.
Từng ngày tháng thật sự khó vượt qua.
Ký ức quay về làm ta
không sao nguôi ngoai.
Giê-hô-va hiểu thấu lòng ta.
Có Cha cạnh bên,
luôn ban sức cho ta.
Ngày Cha nay sắp đến gần,
ngày ta sẽ khóc trong vui mừng.
Ai trong mồ khi nghe Giê-su gọi
sẽ thức dậy.
Bằng đôi mắt đức tin,
nhìn tương lai với hy vọng.
Chờ mong cho khoảnh khắc
bạn thấy thân nhân 
được sống lại
trong địa đàng.
Mai sau đây, khi nhìn ra,
ở trước mặt ta.
Ánh sáng ban mai nơi chân trời
và bóng dáng thân thương
nay ở ngay đây.
Ôi lệ không ngừng rơi,
bạn không thể tin
người đang ở đây!
Ý Chúa ban cho tương lai tuyệt vời,
nước mắt đau thương
cất đi muôn đời.
Giờ ngày Cha nay sắp đến gần,
ngày ta sẽ khóc trong vui mừng.
Ai trong mồ khi nghe Giê-su gọi
sẽ thức dậy.
Bằng đôi mắt đức tin,
nhìn tương lai với hy vọng.
Chờ mong cho khoảnh khắc
người thân yêu dấu
được sống lại
trong địa đàng.
Chờ mong đến khi gặp lại.
Đức Giê-hô-va biết
chúng ta mong mỏi được gặp lại
người thân yêu
và ngài cũng mong được gặp họ.
Giống như lời ngài đã hứa
“đối với ngài, tất cả họ đều sống”.
Chúng ta được củng cố đức tin
nơi mọi lời hứa của Đức Giê-hô-va
khi đọc Kinh Thánh trong tiếng mẹ đẻ.
Vậy tổ chức đã làm những gì
để dịch Kinh Thánh chính xác
và dễ hiểu trong nhiều
ngôn ngữ nhất có thể.
Vào năm 1950,
khi ra mắt
Kinh Thánh—Bản dịch Thế Giới Mới
(Ma-thi-ơ đến Khải huyền),
anh Nathan Knorr đã giải thích:
Đây là một bản dịch dễ hiểu
đối với độc giả ngày nay,
giống như những bản gốc
do môn đồ Đấng Ki-tô viết
cũng dễ hiểu đối với
người dân thường vào thời của họ.
Với thời gian,
nhiều tập Kinh Thánh đã được
xuất bản cho đến khi ra mắt
Bản dịch Thế Giới Mới trọn bộ
trong tiếng Anh vào năm 1961.
Giờ đây, chúng ta đã có một
cuốn Kinh Thánh chính xác,
dễ đọc và tôn vinh danh Đức Giê-hô-va.
Lúc ấy, Kinh Thánh cũng được
tiến hành dịch sang sáu ngôn ngữ khác.
Đến năm 1963,
sáu dịch thuật viên đã dịch xong
phần Kinh Thánh tiếng Hy Lạp
sang các ngôn ngữ của họ.
Nhưng việc dịch Kinh Thánh
tiến triển khá chậm
và có một số ngôn ngữ phải mất
đến hơn 20 năm để hoàn tất.
Khoảng 30 năm sau khi
Bản dịch Thế Giới Mới
trọn bộ trong tiếng Anh được ra mắt,
bản dịch này vẫn
chỉ có trong 12 ngôn ngữ.
Để giúp đẩy nhanh
quá trình dịch Kinh Thánh,
vào năm 1989,
Hội đồng Lãnh đạo đã thành lập
một ban mới tại trụ sở trung ương.
Đó là Ban Hỗ trợ Dịch thuật.
Nhiệm vụ của ban từ trước đến nay
vẫn là hỗ trợ việc dịch Kinh Thánh
và các ấn phẩm dựa trên Kinh Thánh,
huấn luyện các dịch thuật viên,
đồng thời giải đáp
thắc mắc của họ trên toàn cầu.
Dĩ nhiên, trong quá trình dịch,
họ sẽ có nhiều thắc mắc
về cách dịch sao cho chính xác.
Ban Hỗ trợ Dịch thuật đã tổ chức
và chuẩn bị cho các nhóm dịch
để bắt đầu việc
dịch Kinh Thánh như thế nào?
Trước hết, các dịch thuật viên được
huấn luyện về những nguyên tắc cơ bản,
bao gồm cách diễn đạt những thành ngữ,
hiểu đúng ý nghĩa của các đoạn Kinh Thánh
cũng như cách truyền tải những
hình ảnh so sánh từ thời xưa.
Đối với một số đoạn Kinh Thánh,
các dịch thuật viên cần có sơ đồ
để hình dung rõ các phần
thì mới có thể dịch chính xác.
Thêm vào đó,
nhóm dịch phải chọn cách diễn đạt
sao cho truyền tải rõ
ý nghĩa của văn bản gốc.
Nếu một nhóm có thắc mắc nào,
họ có thể gửi câu hỏi
cho Ban Hỗ trợ Dịch thuật.
Câu trả lời sẽ được lưu lại bằng
một phần mềm chuyên dụng.
Tính đến nay, phần mềm này đã
lưu lại khoảng 140.000 câu hỏi
liên quan đến việc dịch Kinh Thánh.
Những câu hỏi này
cũng được dùng trong các
chương trình huấn luyện bổ sung
để cải thiện tốc độ và chất lượng dịch thuật.
Khi được hỏi:
“Anh nghĩ Bản dịch Thế Giới Mới
sẽ được dịch sang bao nhiêu ngôn ngữ?”
Anh Albert Schroeder
thuộc Hội đồng Lãnh đạo trả lời:
“Sẽ được dịch ra trong mọi ngôn ngữ
có dịch tạp chí Tháp Canh”.
Vì một bản dịch Kinh Thánh
chính xác sẽ cung cấp
nền tảng vững chắc hơn
trong việc học chân lý.
Đến giữa thập niên 1990,
nhu cầu cần có bản dịch Kinh Thánh
chính xác trong các ngôn ngữ địa phương
ngày càng cần thiết hơn.
Những ngôn ngữ chưa có
Bản dịch Thế Giới Mới
thì phải dùng các
bản dịch Kinh Thánh khác.
Trong một số trường hợp,
những hội thánh đang phát triển nhanh
thì chỉ có một hoặc hai
cuốn Kinh Thánh để sử dụng chung.
Nhiều bản dịch thì không chính xác
và ủng hộ giáo lý sai lầm.
Một số bản dịch còn dùng
tên của các thần địa phương
để thay thế cho danh Đức Giê-hô-va.
Khi đã có các công cụ, công nghệ
và chương trình huấn luyện,
thì vào năm 2004,
Hội đồng Lãnh đạo
đã mở rộng việc dịch Kinh Thánh.
Sau khi nhóm dịch đã
có kinh nghiệm dịch Tháp Canh
thì dự án tiếp theo sẽ là
ưu tiên cho việc dịch Kinh Thánh.
Lúc này, mọi thứ đã sẵn sàng
để thực hiện mục tiêu
mà anh Schroeder từng mong muốn.
Công việc mà các nhóm dịch
phải đảm nhận quả thật rất lớn.
Nhưng công việc
dịch thuật chưa dừng lại
khi Kinh Thánh được ra mắt.
Vì ngôn ngữ thay đổi theo thời gian
nên các bản dịch cần được chỉnh sửa
để ý nghĩa của văn bản gốc vẫn rõ ràng.
Hiện nay,
có khoảng gần 700 anh chị
đang làm việc trọn thời gian
để dịch Lời Đức Chúa Trời.
Dù Kinh Thánh
chỉ mất vài giây để tải xuống
nhưng mỗi nhóm phải
mất từ năm đến bảy năm
để dịch toàn bộ một cuốn Kinh Thánh.
Nhờ sự ban phước của Đức Giê-hô-va,
chúng ta đã có một bản dịch Kinh Thánh
tiếp tục tôn vinh danh ngài
trong hơn 325 ngôn ngữ,
đồng thời chính xác
và dễ đọc hơn bao giờ hết.
Ngay cả những nhóm có ít người công bố
cũng có Bản dịch Thế Giới Mới
trong tiếng mẹ đẻ.
Khi những người khiêm nhường
đọc Kinh Thánh
trong ngôn ngữ của mình,
họ cảm thấy hạnh phúc,
phấn khởi và tràn đầy niềm vui.
Việc dịch Lời Đức Chúa Trời
cho “mọi nước,
mọi chi phái, mọi thứ tiếng, cùng mọi dân”
chỉ là một bước để mang tin mừng
đến với mọi người trên khắp thế giới.
Điều quan trọng nhất là phần của anh chị.
Khi đọc Kinh Thánh,
hãy để lời ấy chạm đến lòng
và thôi thúc anh chị
chia sẻ thông điệp
cứu mạng với người khác.
Anh chị có nhảy lên mừng rỡ
giống những anh chị ấy không?
Thật là một trải nghiệm đầy vui mừng
khi nhận được Bản dịch thế giới mới
trong tiếng mẹ đẻ.
Anh chị học được gì
trong chương trình tháng này?
Nhờ sự hướng dẫn trong Lời Đức Chúa Trời,
chúng ta có thể giữ mắt đơn giản
để giúp cả thân thể được sáng.
Dù điều đó đòi hỏi sự hy sinh
nhưng chúng ta sẽ có hạnh phúc thật
nếu đơn giản hóa đời sống
để mở rộng thánh chức.
Nếu sống gần văn phòng chi nhánh,
anh chị có thể tình nguyện đến Bê-tên
để làm việc không?
Sách Xa-cha-ri giúp chúng ta hình dung
quyền năng của Đức Giê-hô-va,
và noi gương ngài trong việc
khích lệ người khác.
Và bài hát đặc sắc tháng này rất hay.
Bài hát ấy đã động đến lòng tôi,
còn anh chị thì sao?
Ngày mà chúng ta chào đón
người thân yêu đã qua đời sống lại
sẽ là một ngày rất tuyệt vời!
Tháng này, chúng ta sẽ
đến thăm Luxembourg
và các anh em chúng ta tại đó.
Luxembourg là một quốc gia nhỏ,
nằm ngay trung tâm châu Âu.
Tên gọi này xuất phát từ một cụm từ
có nghĩa là “pháo đài nhỏ”.
Tên này phù hợp vì đây là một vùng đất
có hơn 70 lâu đài
nằm rải rác khắp nơi.
Trong hình là lâu đài Bourscheid
nằm ở trên cao,
gần sông Sûre và được bao quanh
bởi 11 cái tháp.
Gần đó, là lâu đài Vianden
thời Trung cổ.
Lâu đài này được xây trên nền móng
của một pháo đài thời La Mã
từ thế kỷ thứ 3 CN.
Những lâu đài này đứng vững
qua nhiều thế kỷ.
Tương tự, các Nhân Chứng trung thành tại đây
cũng kiên định vượt qua mọi thử thách.
Dù bị hàng giáo phẩm chống đối
và gây áp lực,
anh Eugene Reuter vẫn cho anh em
dùng nhà mình
để phục vụ công việc Nước Trời.
Năm 1933, nhà anh trở thành
nơi đầu tiên trong nước
lưu trữ và phân phát những ấn phẩm
dựa trên Kinh Thánh.
Biển hiệu của Hội Tháp Canh
treo trên cửa nhà anh.
Đây là một cách âm thầm nhưng đầy can đảm
để tuyên bố đức tin.
Trong thời kỳ Đức chiếm đóng Luxembourg
vào năm 1940,
chị Rosalie Fonck đã bị bắt
khi người ta tìm thấy ấn phẩm
của Nhân Chứng trong nhà của chị.
Các bậc cầm quyền đã bắt chị khai tên
của anh em đồng đạo và người lãnh đạo.
Nhưng chị trả lời:
“Đức Giê-hô-va là Đấng Lãnh Đạo tôi”.
Cùng thời điểm đó,
anh Victor Bruch bị bỏ tù
vì từ chối tham gia chiến tranh.
Anh bị đưa đến trại tập trung Buchenwald.
Các bậc cầm quyền bắt anh em
phải đứng hàng giờ,
làm việc ban đêm và đi lại
bằng những đôi guốc gỗ.
Nhưng anh em tại đó
vẫn tiếp tục khích lệ lẫn nhau.
Sau đó, anh Victor bị chuyển đến Auschwitz.
Dù vậy, anh vẫn giữ vững đức tin
và chia sẻ thông điệp Nước Trời
với người khác.
Ngày nay, anh em tại Luxembourg
vẫn có đức tin mạnh
và lòng yêu mến chân lý giống như thế.
Có hơn 2.000 người công bố
đang rao truyền tin mừng trong 10 ngôn ngữ.
Các anh em quây quần bên nhau
nấu món súp đậu que
và thịt cổ heo hun khói
ăn kèm với đậu.
Như các anh chị thấy,
anh em hòa giọng ca hát
tại các buổi nhóm họp.
Hãy cùng lắng nghe 84 anh chị
thuộc hội thánh Allemand
cất giọng ca hát ngợi khen Đức Giê-hô-va.
Anh em tại Luxembourg gửi đến chúng ta
tình yêu thương và lời chào nồng ấm.
Chúng tôi cũng yêu thương anh chị.
Đây là Kênh truyền thông JW
từ trụ sở trung ương
của Nhân Chứng Giê-hô-va.